info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Đặc điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và đột biến gen KRAS ở mức độ RNA của bệnh nhân polyp đại trực tràng kích thước trên 10 mm

Năm2023
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

KÍCH THƯỚC TRÊN 10 MM

Ngành:

Nội khoa

Mã số: 9 72 01 07

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này, được hoàn thành tại Học viện Quân y thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Quốc phòng, chuyên ngành Nội khoa (Mã số: 9 72 01 07), là một công trình nghiên cứu sâu về polyp đại trực tràng (ĐTT) kích thước trên 10 mm. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng công nghệ ExBP-RT, sử dụng các mẫu RNA làm khuôn để phân tích đột biến gen.

Nghiên cứu tập trung vào hai nhóm đối tượng chính: 49 bệnh nhân ung thư ĐTT điều trị tại Khoa ống tiêu hóa – Trung tâm phẫu thuật và các bệnh nhân có polyp ĐTT kích thước lớn hơn 10mm được chọn mẫu thuận tiện. Các mẫu mô đúc nến được cắt lát dày khoảng 10μm để phân tích. Dữ liệu cận lâm sàng bao gồm xét nghiệm máu ẩn trong phân và các marker như CEA, CA19.9.

Kết quả cho thấy 85,7% bệnh nhân polyp ĐTT có độ tuổi từ 40 trở lên, với tuổi trung bình là 56,2 ± 16,4, và không có mối liên quan giữa tuổi với đặc điểm polyp trên nội soi. Về vị trí, polyp thường gặp nhất ở trực tràng (89,2%) và đại tràng sigma (50%). Kích thước polyp trung bình là 18,3 ± 6,1 mm (dao động từ 10 đến 40 mm). Đa số polyp có bề mặt nhẵn (52,4%) và hình dạng có cuống hoặc không cuống. Về mô bệnh học, 84,5% polyp là u tuyến, trong đó u tuyến ống chiếm tỷ lệ cao nhất (91,6%). Polyp không u tuyến chủ yếu là polyp thiếu niên (53,8%). Tình trạng loạn sản được ghi nhận ở 84,5% polyp, với mức độ loạn sản thấp là 81,7% và độ cao là 18,3%. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa vị trí polyp với một số đặc điểm mô bệnh học.

Về đột biến gen KRAS ở mức độ RNA, tỷ lệ này ở polyp u tuyến là 11,3%. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể ở nhóm polyp có thành phần nhung mao (33,3%) và polyp u tuyến có loạn sản độ cao (23,1%). Tỷ lệ đột biến gen KRAS ở mức độ RNA ở bệnh nhân polyp ĐTT kích thước > 10mm là 10,7%. Đáng chú ý, đột biến gen KRAS ở mức độ RNA được phát hiện làm tăng nguy cơ ung thư ĐTT lên 3,15 lần (KTC 95%: 1,20 - 8,24). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận đột biến gen KRAS ở mức độ RNA không làm tăng nguy cơ ung thư ĐTT so với nhóm polyp u tuyến. Không có mối liên quan giữa tình trạng đột biến gen KRAS với giới tính của bệnh nhân. So sánh với các nghiên cứu khác, tỷ lệ đột biến gen KRAS trong luận án này (1,7% theo phần so sánh) có sự khác biệt so với các công trình quốc tế (từ 3,0% đến 28,9%).

Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc ứng dụng công nghệ phi phiên tiên tiến và phân tích chi tiết mối liên quan giữa tỷ lệ đột biến gen KRAS ở mức độ RNA với các đặc điểm hình ảnh nội soi và mô bệnh học.

Tài liệu liên quan