ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA VIÊM GAN HOẠT ĐỘNG SAU SINH Ở PHỤ NỮ MANG THAI NHIỄM HBV MẠN TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI
Dịch tễ học
Luận án này tập trung nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và các yếu tố nguy cơ của viêm gan hoạt động (VGHĐ) sau sinh ở phụ nữ mang thai nhiễm HBV mạn, một vấn đề sức khỏe toàn cầu gây xơ gan và ung thư gan. Hoạt tính miễn dịch thay đổi trong thai kỳ và hiện tượng phục hồi miễn dịch sau sinh có thể dẫn đến VGHĐ (ALT > 2 ULN) hoặc viêm gan bùng phát (VGBP: ALT > 5 ULN), ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người mẹ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về diễn tiến VGHĐ sau sinh còn hạn chế, đặc biệt là theo dõi dài hạn và xác định yếu tố nguy cơ.
Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng đoàn hệ hồi cứu và tiến cứu tại Đơn vị khám chuyên khoa gan, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ tháng 11/2019 đến tháng 11/2022, với 375 phụ nữ mang thai nhiễm HBV mạn tham gia. Mục tiêu chính là mô tả đặc điểm dịch tễ, dấu ấn vi rút, xác định tỉ suất mới mắc và các yếu tố nguy cơ của VGHĐ sau sinh.
Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của thai phụ là 29 tuổi, với 56,5% dưới 30 tuổi. Tỉ suất mới mắc của VGHĐ trong 12 tháng sau sinh là 2,92/100 người-tháng. Tỉ lệ mới mắc tích lũy tăng dần theo thời gian, tăng nhanh nhất trong giai đoạn 2-3 tháng sau sinh. Khoảng 1/5 trường hợp VGHĐ là VGBP. Nghiên cứu đã xác định ba yếu tố nguy cơ độc lập của VGHĐ sau sinh là: HBeAg dương tính (HR=5,31), nồng độ HBV DNA >200.000 IU/mL (HR=4,84) và qHBsAg >104 IU/mL (HR=2,03). Ngoài ra, nghiên cứu cũng cung cấp thông tin về tỉ lệ thai phụ cần uống Tenofovir disoproxil fumarate (TDF) để dự phòng lây truyền HBV mẹ-con hoặc điều trị viêm gan B mạn.
Những đóng góp mới của đề tài bao gồm việc cung cấp dữ liệu về tỉ suất mới mắc VGHĐ sau sinh ở sản phụ trong thời gian dài hơn (đến 12 tháng) tại Việt Nam và xác định các yếu tố nguy cơ quan trọng. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất bổ sung vào hướng dẫn quốc gia về việc theo dõi và xử trí phụ nữ mang thai nhiễm HBV mạn trong thai kỳ và hậu sản, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người mẹ. Các kiến nghị bao gồm việc tăng cường sàng lọc, tư vấn tái khám định kỳ cho nhóm nguy cơ cao, và phối hợp đa chuyên khoa để tối ưu hóa quản lý bệnh.