NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI VE SẦU (HEMIPTERA: CICADIDAE) Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VÀ MỘT SỐ ĐIỂM PHỤ CẬN, VIỆT NAM
Côn trùng học (Mã số: 9 42 01 06)
Luận án "Nghiên cứu thành phần, phân bố của các loài ve sầu (Hemiptera: Cicadidae) ở vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận, Việt Nam" của Nguyễn Thị Huyên tập trung vào việc làm rõ sự đa dạng sinh học của họ ve sầu tại một khu vực có địa hình phức tạp và ý nghĩa sinh thái quan trọng.
Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ thực tế ve sầu là nhóm côn trùng đa dạng ở Việt Nam, đặc biệt tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á. Tuy nhiên, các nghiên cứu về khu hệ ve sầu ở miền Bắc Việt Nam còn hạn chế. Ve sầu đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, vừa là nguồn thức ăn cho các loài khác, vừa là chỉ số quan trọng cho sự toàn vẹn của sinh cảnh rừng, đồng thời vỏ lột xác của chúng còn có giá trị y học. Mức độ đặc hữu cao của ve sầu cũng góp phần vào nghiên cứu địa sinh vật học của khu vực Đông Nam Á.
Mục tiêu chính của luận án là đánh giá sự đa dạng của họ ve sầu tại vùng Đông Bắc Việt Nam, xây dựng bộ mẫu đạt tiêu chuẩn quốc tế và cung cấp thông tin chi tiết về phân bố của các loài. Từ đó, luận án góp phần vào công tác thống kê khu hệ ve sầu và xây dựng khóa định loại tới cấp giống và loài cho khu vực này.
Các nội dung nghiên cứu bao gồm khảo sát, thống kê các loài ve sầu (phân loại học, đa dạng loài, thành phần loài, phân bố theo địa lý, cảnh quan, độ cao) và xây dựng khóa định loại. Đồng thời, nghiên cứu cũng xây dựng bản đồ phân bố chi tiết cho các loài ve sầu ở Đông Bắc Việt Nam, làm tiền đề cho việc đánh giá độ phong phú loài và bổ sung kiến thức về địa lý sinh vật. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thu mẫu bằng vợt côn trùng và bẫy đèn tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, sau đó xử lý, bảo quản và phân tích mẫu vật dựa trên so sánh hình thái và các tài liệu khoa học liên quan.
Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 62 loài ve sầu thuộc 30 giống, 10 tộc và 2 phân họ (Cicadettinae và Cicadinae) tại vùng Đông Bắc và phụ cận, chiếm 42,5% tổng số loài ve sầu đã biết trên cả nước. Luận án đã mô tả 1 loài mới cho khoa học (Sinotympana caobangensis), ghi nhận 2 giống mới (Sinoptympana và Hyalessa) và 2 loài mới cho khu hệ ve sầu Việt Nam (Haphsa karenensis, Hyalessa maculaticollis), cùng 2 loài mới cho vùng Đông Bắc (Purana parvituberculata, Haphsa opercularis). Đặc biệt, nghiên cứu đã xây dựng khóa định loại đến cấp phân họ, tộc, giống và loài, đồng thời phân tích sự phân bố theo độ cao, cho thấy phần lớn các loài tập trung ở đới 700-1200m.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm cung cấp danh lục chi tiết 62 loài ve sầu với thông tin phân loại và phân bố, mô tả loài mới, ghi nhận giống và loài mới, và xây dựng khóa định loại toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn ve sầu ở Việt Nam.