info@luanan.net.vn
Luận án DOCX

Luận án – Bong bóng plasma và đặc trưng dị thường ion hóa xích đạo khu vực Việt Nam và lân cận

Năm2023
Lĩnh vựcKhoa học tự nhiên
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

BONG BÓNG PLASMA VÀ ĐẶC TRƯNG DỊ THƯỜNG ION HÓA XÍCH ĐẠO KHU VỰC VIỆT NAM VÀ LÂN CẬN

Ngành:

Vật lý Địa cầu

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này nghiên cứu về bong bóng plasma và đặc trưng dị thường ion hóa xích đạo (EIA) tại khu vực Việt Nam và lân cận, sử dụng dữ liệu Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) liên tục từ năm 2008 đến 2021. Mục tiêu chính là làm sáng tỏ các quy luật biến đổi theo thời gian của EIA, đặc trưng xuất hiện của các bất thường điện ly ban đêm, và đánh giá hiệu quả của các mô hình điện ly hiện có.

Nghiên cứu đã xây dựng các sơ đồ Tổng hàm lượng điện tử (TEC) theo thời gian và vĩ độ, phân tích các tham số đỉnh EIA (biên độ, vĩ độ, thời gian xuất hiện) và chỉ số dao động pha TEC (ROTI) để khám phá các quy luật biến thiên nội mùa, bán niên, năm, dao động tựa hai năm (QBO) và biến thiên theo chu kỳ hoạt động mặt trời. Phương pháp phân tích hàm trực giao thực nghiệm (EOF) cũng được áp dụng để mô hình hóa và so sánh các giá trị TEC quan sát được với các mô hình quốc tế như IRI-2016 và GIMs/CODG.

Những điểm mới của luận án bao gồm việc xác định tin cậy các đặc trưng EIA và bất thường điện ly ban đêm bằng chuỗi số liệu GPS dài hơn một chu kỳ hoạt động mặt trời. Nghiên cứu định lượng vị trí cực đại bất thường điện ly so với các đỉnh EIA, cho thấy chúng thường xuất hiện sau hoàng hôn đến nửa đêm và dịch chuyển về phía xích đạo khoảng 4°-5° so với đỉnh EIA ban ngày. Luận án cũng khẳng định khả năng mô phỏng tốt của mô hình EOF đối với biến thiên ngày đêm, mùa và theo hoạt tính mặt trời của TEC, chính xác hơn các mô hình toàn cầu.

Kết quả cho thấy cấu trúc EIA hai đỉnh rõ ràng (Bắc 17-22°N, Nam 5-7°S) với các quy luật biến đổi phù hợp với nghiên cứu trước đó. Các dao động chu kỳ như 15 ngày (liên quan sóng hành tinh), 27 ngày (liên quan chu kỳ quay Mặt Trời), 6 tháng, 1 năm và QBO (18-34 tháng, chịu ảnh hưởng QBO khí quyển) đều được xác định. Tần suất xuất hiện bất thường điện ly ban đêm đạt cực đại vào các tháng phân điểm và chiếm ưu thế trước nửa đêm. Phương pháp EOF cho thấy khả năng dự đoán và phản ánh hiệu ứng bão từ tốt hơn các mô hình IRI hay CODG.

Mục lục chi tiết:

  • Chương 1. Tổng quan về tầng điện ly, hệ thống định vị toàn cầu và nghiên cứu điện ly vùng vĩ độ thấp sử dụng công nghệ GPS
  • Chương 2. Số liệu và các phương pháp nghiên cứu
  • Chương 3. Dị thường ion hóa xích đạo khu vực ĐNA
  • Chương 4. Bất thường điện ly ban đêm khu vực ĐNA
  • Chương 5. Mô hình hóa TEC quan sát bằng các hàm EOF và so sánh với các mô hình TEC toàn cầu

Tài liệu liên quan