Giá trị của chụp cắt lớp vi tính đa dãy trong chẩn đoán và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn ung thư trực tràng
Y học (Chẩn đoán hình ảnh và Ngoại khoa Ung bướu)
Ung thư trực tràng (UTTT) là một trong những bệnh ung thư đường tiêu hóa phổ biến trên toàn cầu và đứng hàng thứ 5 tại Việt Nam, với gần 15.000 ca mắc mới và khoảng 7.000 ca tử vong mỗi năm theo ghi nhận năm 2002. Để tối ưu hóa hiệu quả điều trị, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy và cộng hưởng từ (CHT) đóng vai trò thiết yếu trong việc xác định mức độ xâm lấn tạng và di căn hạch. Mặc dù CHT có nhiều ưu điểm, CLVT đa dãy vẫn được đánh giá cao nhờ khả năng chẩn đoán di căn xa, tính phổ biến, dễ thực hiện và thời gian chụp nhanh, góp phần xây dựng chiến lược điều trị chính xác. Phẫu thuật triệt căn là phương pháp điều trị chủ đạo, có thể thực hiện bằng mổ mở hoặc nội soi, được bổ trợ bởi xạ trị, hóa chất và miễn dịch.
Nghiên cứu này được tiến hành với hai mục tiêu chính: xác định giá trị của chụp CLVT đa dãy trong chẩn đoán UTTT được phẫu thuật triệt căn, và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn UTTT. Luận án đã đưa ra những đóng góp mới quan trọng, cụ thể là về giá trị chẩn đoán của CLVT đa dãy đối với UTTT. Chẩn đoán mức độ xâm lấn của u có độ chính xác từ 88,1% đến 97,4%, độ nhạy từ 20% đến 95,8% và độ đặc hiệu từ 80,0% đến 100%. Đối với chẩn đoán di căn hạch, độ chính xác đạt 63,5% đến 76,2%, độ nhạy từ 48,7% đến 100% và độ đặc hiệu từ 67,5% đến 94,7%. Chẩn đoán giai đoạn bệnh đạt độ chính xác từ 63,5% đến 98,3%.
Về kết quả phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn UTTT tại Bệnh viện Việt Đức, luận án ghi nhận không có trường hợp tử vong sau mổ. Tỷ lệ biến chứng sớm sau mổ là 8,5%, với thời gian nằm viện trung bình là 8,4±3,5 ngày. Kết quả theo dõi xa cho thấy tỷ lệ tái phát là 15%, tử vong 9,3% (sau 2-47 tháng), tỷ lệ sống thêm toàn bộ trung bình là 43,8 tháng và sống thêm không bệnh trung bình là 42,5 tháng. Di chứng rối loạn tình dục được ghi nhận ở 14,0% bệnh nhân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ xâm lấn của u là yếu tố tiên lượng độc lập đối với thời gian sống thêm toàn bộ. Luận án này đã làm rõ thêm vai trò của CLVT đa dãy trong chẩn đoán tổn thương UTTT và hiệu quả của phẫu thuật nội soi triệt căn.