info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Nghiên cứu thành phần, phân bố các loài Nưa (Amorphophallus spp.) củ có glucomannan và chọn loài có triển vọng phát triển trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Năm2017
Lĩnh vựcKhoa học tự nhiên
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, PHÂN BỐ CÁC LOÀI NƯA (AMORPHOPHALLUS SPP.) CỦ CÓ GLUCOMANNAN VÀ CHỌN LOÀI CÓ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN TRỒNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

Ngành:

Thực vật học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ này tập trung vào tiềm năng kinh tế của các loài Nưa (Amorphophallus spp.) giàu glucomannan, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi có thu nhập thấp và tỷ lệ đói nghèo cao. Mục tiêu chính là đánh giá thành phần, phân bố các loài Nưa chứa glucomannan, lựa chọn loài có triển vọng và phát triển các kỹ thuật nhân giống, trồng trọt phù hợp.

Nghiên cứu đã điều tra thực địa tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc, xác định 8 loài Nưa, trong đó có 6 loài chứa glucomannan. Nổi bật là Amorphophallus konjac với hàm lượng glucomannan cao nhất (44,97%), tiếp theo là A. yuloensis (30,07%), A. krausei (29,2%), A. corrugatus (28,6%) và A. yunnanensis (25,97%). Các loài này phân bố đa dạng về độ cao, hướng phơi và sinh cảnh, với các loài hàm lượng glucomannan cao thường tập trung ở vùng khí hậu mát mẻ, có tán che.

Luận án cũng ghi nhận tri thức bản địa về khai thác và chế biến củ Nưa thành các món ăn truyền thống. Đồng thời, nghiên cứu đã xây dựng các quy trình kỹ thuật tối ưu cho nhân giống và trồng Nưa konjac. Cụ thể, nhân giống hữu tính từ hạt đạt hiệu quả cao nhất khi thu hái quả chín có vỏ đỏ cam, bảo quản lạnh ở 5°C và xử lý hạt bằng cách ngâm nước ấm 40-50°C trong 6 giờ. Đối với nhân giống bằng củ, xử lý vết cắt bằng xi măng và bảo quản lạnh ở 10°C cho tỷ lệ nảy chồi và sống cao nhất. Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào cũng được tối ưu hóa với môi trường MS + 2 mg/l BAP + 0,2 mg/l Kinetin để tái sinh chồi và môi trường 1/2 MS + 0,4 mg/l IBA để ra rễ, sử dụng giá thể 50% đất + 30% cát + 20% trấu hun cho cây con.

Về trồng trọt, kết quả chỉ ra rằng sử dụng củ giống 70-100g, độ che sáng 60%, thời vụ trồng cuối tháng 3 đầu tháng 4 dương lịch, mật độ 40.000 cây/ha (50x50cm) và bón phân NPK với tỷ lệ 120 kg N + 50 kg P2O5 + 140 kg K2O/ha mang lại năng suất và hàm lượng glucomannan tối ưu. Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 2/3 lá Nưa chuyển màu vàng. Luận án kiến nghị tiếp tục các nghiên cứu bảo tồn, nhân giống, lai tạo và phát triển Nưa konjac để thúc đẩy kinh tế các địa phương.

Mục lục chi tiết:

Nội dung tài liệu được cung cấp không bao gồm mục lục chi tiết.

Tài liệu liên quan