Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Chính sách Công Thương
Nguyễn Thu Hương
Luận án Năng lực cung ứng của doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong chuỗi cung ứng sản phẩm cơ khí
Chuyên ngành: Kinh tế - Quản lý
Luận án
2019
1Đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Đăng nhập ngayMục lục
1. Lời nói đầu .......................... 3
2. Chương 1: Giới thiệu ............ 7
3. Chương 2: Nội dung nghiên cứu .. 28
4. Kết luận ................................ 70
Năng lực cung ứng của doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong chuỗi cung ứng sản phẩm cơ khí
Kinh doanh thương mại
Luận án này trình bày những kết luận mới quan trọng về năng lực cung ứng (NLCU) của doanh nghiệp (DN) công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Việt Nam trong chuỗi cung ứng (CCU) sản phẩm cơ khí (SPCK), bao gồm cả khía cạnh lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu đã thành công trong việc xác lập mô hình nghiên cứu NLCU của DN CNHT Việt Nam. Mô hình này được cấu thành từ bốn nhóm nhân tố chính: nguồn lực DN, NLCU, kết quả cung ứng (KQCU) và các đặc điểm của DN ảnh hưởng đến NLCU.
Trên phương diện thực tiễn, luận án đã tiến hành khảo sát 231 DN CNHT Việt Nam, chủ yếu là các nhà cung ứng cho chuỗi cung ứng ngành ô tô và một số chuỗi SPCK khác như xe máy, điện tử, nhằm đánh giá NLCU. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng, nguồn lực của DN được đóng góp bởi ba thành phần: Nguồn lực vô hình (chiếm tỷ lệ lớn nhất 51,6%), Nguồn lực hữu hình (24,9%) và Nguồn nhân lực (23,4%). NLCU của DN được hình thành từ năm năng lực thành phần chính: Năng lực sản xuất (22,3%), Năng lực logistics đầu vào (21%), Năng lực marketing và bán hàng (19,6%), Năng lực logistics đầu ra (18,7%) và Năng lực dịch vụ (18,4%).
Đối với KQCU, luận án đo lường thông qua ba tiêu chí là Chất lượng, Giá cả và Giao hàng. Trong đó, Giá cả được đánh giá là tiêu chí quan trọng nhất (35,3%), tiếp theo là Giao hàng (33,8%) và Chất lượng (30,8%). Nghiên cứu cũng làm rõ rằng nguồn lực của DN không tác động trực tiếp tới KQCU mà tác động gián tiếp thông qua NLCU. NLCU có tác động trực tiếp và thuận chiều đối với KQCU, với sự đóng góp tỷ lệ vào KQCU của nguồn lực và NLCU lần lượt là 44,81% và 45,89%, khẳng định tầm quan trọng của việc đồng thời có cả nguồn lực và NLCU để đạt được KQCU. Một phát hiện đáng chú ý khác là NLCU của các doanh nghiệp FDI tốt hơn so với các DN 100% vốn Việt Nam, trong khi NLCU của các DN có quy mô lớn hay đã hoạt động lâu đời lại không có sự khác biệt so với các DN có quy mô nhỏ hơn và tuổi đời trẻ hơn.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên