NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MẶT CẮT NGANG VÀ SÓNG TRÀN QUA ĐÊ BIỂN CÓ KẾT CẤU ¼ TRỤ RỖNG TRÊN ĐỈNH
Kỹ thuật Xây dựng Công trình Biển
Luận án "Nghiên cứu đề xuất mặt cắt ngang và sóng tràn qua đê biển có kết cấu ¼ trụ rỗng trên đỉnh" giải quyết tính cấp thiết về bảo vệ đê biển Việt Nam trước biến đổi khí hậu và sạt lở bờ biển, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Các giải pháp đê hiện tại, như tường đỉnh, còn hạn chế về tải trọng, sụt lún và sóng phản xạ cao, gây mất ổn định chân tường. Để khắc phục, luận án đề xuất mặt cắt đê biển có kết cấu rỗng nhằm cải thiện các hạn chế này.
Mục tiêu chính của luận án là đề xuất một dạng kết cấu đê biển mới sử dụng ¼ trụ rỗng trên đỉnh và xây dựng công thức thực nghiệm để tính toán lưu lượng sóng tràn trung bình qua mặt cắt này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đê biển có kết cấu ¼ trụ rỗng trên đỉnh và sóng tràn qua đó, đặc biệt trong điều kiện tự nhiên của ĐBSCL.
Tác giả đã tiếp cận nghiên cứu bằng cách phân tích, đánh giá các loại đê biển hiện có, sau đó đề xuất một mặt cắt đê mới có kết cấu ¼ trụ rỗng trên đỉnh phù hợp với vùng ĐBSCL. Phương pháp nghiên cứu kết hợp lý thuyết và thí nghiệm mô hình vật lý để thiết lập công thức tính toán sóng tràn. Các thí nghiệm mô hình vật lý được thiết kế theo tiêu chuẩn Froude, với 79 phương án thí nghiệm được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của các thông số sóng, mực nước và tỷ lệ lỗ rỗng bề mặt.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra cơ sở định lượng về ưu điểm giảm sóng tràn và sóng phản xạ của kết cấu ¼ trụ rỗng trên đỉnh. Luận án đã thành công trong việc đề xuất một dạng mặt cắt đê biển mới này, phù hợp với điều kiện đất nền yếu ở ĐBSCL. Đồng thời, một công thức thực nghiệm tính toán lưu lượng sóng tràn qua mặt cắt đề xuất đã được xây dựng dựa trên hồi quy từ 60 kết quả thí nghiệm.
Ứng dụng thực tế tại đê biển Nhà Mát, Bạc Liêu cho thấy mặt cắt đê biển có kết cấu ¼ trụ rỗng trên đỉnh mang lại hiệu quả vượt trội. Với cùng cao trình đỉnh +3.5m, lưu lượng tràn qua mặt cắt đề xuất là 5.62 l/s/m, thấp hơn đáng kể so với mặt cắt hiện trạng (8.48 l/s/m). Điều này chứng tỏ khả năng giảm lưu lượng tràn, tăng độ an toàn, giảm chiều cao đắp đê và tương đối phù hợp với điều kiện địa chất nền mềm yếu. Luận án đã đóng góp vào việc bổ sung kiến thức về đê biển nói chung và sóng tràn qua đê biển nói riêng, cung cấp cơ sở quan trọng cho việc phân tích, lựa chọn và tính toán thiết kế đê biển hiệu quả hơn trong thực tiễn.