Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi rút
Bệnh Tay Chân Miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do enterovirus gây ra, thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi và lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa. Từ những năm 1990, các vụ dịch TCM đã bùng phát thường xuyên tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương với nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và tỷ lệ tử vong cao. Điển hình, Đài Loan (2008) ghi nhận 347 ca nặng và 14 tử vong, Trung Quốc (2009) có 1.155.525 ca mắc, trong đó 13.810 ca nặng và 353 tử vong. Hiện tại, bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó việc phát triển vắc xin, phát hiện sớm và điều trị kịp thời là trọng tâm để giảm tỷ lệ tử vong.
Tại Việt Nam, dịch TCM thường xuyên xảy ra, có thể rải rác hoặc lan rộng thành dịch, với vụ dịch lớn năm 2011 ghi nhận 113.121 ca mắc và 170 ca tử vong. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam còn hạn chế về phạm vi và thời gian, chưa mang tính đại diện toàn quốc và chưa đi sâu phân tích các yếu tố tiên lượng bệnh hay đặc điểm căn nguyên vi rút. Nhằm khắc phục những hạn chế này, đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi rút" được tiến hành để cung cấp bức tranh toàn diện về bệnh TCM, các căn nguyên gây bệnh phổ biến, đánh giá đầy đủ về lâm sàng và các biến chứng thường gặp, từ đó góp phần vào công tác phòng bệnh và khống chế tử vong.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2011 đến tháng 12/2012 tại 5 bệnh viện lớn trên cả nước, thu nhận 1170 bệnh nhân TCM từ 50/64 tỉnh thành. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định TCM theo hướng dẫn của WHO và Bộ Y tế (2011), nhập viện điều trị nội trú và có sự đồng ý của người bảo hộ. Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
Kết quả cho thấy 97,7% bệnh nhân dưới 5 tuổi, trong đó 88,4% dưới 3 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ (1,7:1). Phần lớn bệnh nhân nhập viện trong 4 ngày đầu của bệnh (93%). Các triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm phát ban (91,5%), loét miệng (73,9%), sốt (62,1%) và giật mình (51,4%). Hầu hết bệnh nhân nhập viện ở độ 2A (73,8%), với 15,3% nhập viện trong tình trạng nặng (độ 2B, 3, 4). Tỷ lệ chuyển độ nặng hơn trong quá trình nằm viện từ độ 1, 2A, 2B và 3 lần lượt là 31,4%, 11,9%, 27,3% và 7,1%. Trong số 24,6% bệnh nhân có biến chứng, biến chứng thần kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (67,7%), sau đó là biến chứng tuần hoàn (24,3%) và hô hấp (22,2%).