Vốn xã hội của người lao động trong chuyển đổi cấu trúc nghề nghiệp ở nông thôn
Xã hội học
Luận án tập trung nghiên cứu có hệ thống về vai trò của vốn xã hội đối với quá trình chuyển đổi cấu trúc nghề nghiệp của người lao động tại khu vực nông thôn Việt Nam. Đề tài nhấn mạnh tầm quan trọng của nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong việc tạo điều kiện phát triển khu vực này.
Mục đích nghiên cứu chính là khảo sát cách thức người lao động nông thôn vận dụng vốn xã hội để thay đổi nghề nghiệp, việc làm, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực. Luận án đưa ra hai giả thuyết cơ bản: thứ nhất, cấu trúc nghề nghiệp ở nông thôn đang chuyển đổi mạnh mẽ từ các ngành nghề nặng về nông nghiệp sang cấu trúc nghề nghiệp phi nông nghiệp, đa dạng hóa trong sản xuất và kinh doanh; thứ hai, vốn xã hội của người lao động nông thôn chủ yếu bao gồm mạng lưới xã hội, niềm tin và các quan hệ có đi có lại, được hình thành và phát triển trên cơ sở tình cảm, gia đình và dòng họ.
Về mặt lý luận, luận án sử dụng khái niệm vốn xã hội dựa trên quan niệm của các nhà khoa học như Coleman và Bourdieu. Theo đó, vốn xã hội được định nghĩa là một thành tố của mối quan hệ giữa con người và xã hội, biểu hiện qua mạng lưới xã hội, niềm tin và sự có đi có lại. James Coleman đặc biệt nhấn mạnh ba khía cạnh quan trọng của vốn xã hội: nghĩa vụ và mong đợi (phụ thuộc vào sự tin cậy), khả năng dòng chảy thông tin trong các cấu trúc xã hội.
Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại 04 xã thuộc 02 huyện Cẩm Giàng và Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Với tổng số 8.839 hộ gia đình, luận án đã chọn mẫu ngẫu nhiên 410 hộ để khảo sát, thu về 403 phiếu hợp lệ. Dữ liệu định lượng và định tính được xử lý bằng các phần mềm chuyên dụng như Epi-Infor, SPSS 16.0 và Nvivo 7.0.
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ người lao động tham gia đào tạo nghề còn thấp (13,5% tại Cẩm Giàng và 10,8% tại Ninh Giang). Phần lớn người lao động có mức thu nhập trung bình hàng năm từ 1 đến 5 triệu đồng. Quá trình chuyển đổi cấu trúc ngành kinh tế giai đoạn 2005-2014 đã chứng kiến sự dịch chuyển rõ rệt, với tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng (41,5% năm 2005) và dịch vụ (37,5%) chiếm ưu thế, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn 21%. Cấu trúc nghề nghiệp cũng thay đổi theo hướng giảm dần tỉ trọng các nghề nông nghiệp. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở Hải Dương vẫn còn cao, dù đã giảm từ 77,50% (năm 2000) xuống 60% (năm 2010). Vai trò hỗ trợ của các tổ chức phi chính thức đối với người lao động được đánh giá là khá yếu. Đáng chú ý, người lao động trong ngành phi nông nghiệp có xu hướng tham gia nhiều tổ chức cộng đồng hơn. Khoảng 45,4% người được hỏi đã chuyển đổi nghề nghiệp một lần, trong khi gần một nửa chưa từng thay đổi. Luận án cũng chỉ ra rằng vốn xã hội đã được huy động hiệu quả trong các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý và thủ tục liên quan đến chuyển đổi sản xuất, kinh doanh.
Trên cơ sở các phân tích, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vốn xã hội trong chuyển đổi nghề nghiệp, bao gồm việc xây dựng các giá trị ứng xử, chuẩn mực trong hợp tác, liên kết sản xuất và xây dựng mạng lưới xã hội phù hợp với nhu cầu cộng đồng. Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nghề và thị trường lao động để trang bị kiến thức (làm nền tảng phát triển vốn xã hội) và tạo cơ hội việc làm cho người lao động, cũng như xây dựng quy tắc, chuẩn mực trong cộng đồng và các tổ chức, nhóm liên kết.