VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ
XÃ HỘI HỌC
Luận án tiến sĩ này nghiên cứu vai trò của cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã, phường ở khu vực đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đối với chuyển đổi số, trong bối cảnh đây là xu thế tất yếu của kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghiên cứu xuất phát từ thực trạng chuyển đổi số còn nhiều thách thức, bao gồm việc một bộ phận CBCC chưa theo kịp yêu cầu về kỹ năng số, nhận thức chưa đầy đủ, tâm lý e ngại cái mới, và vai trò còn mờ nhạt, mang tính hình thức. Địa bàn nghiên cứu tập trung vào 12 phường mới sau sắp xếp từ 34 phường của TP. Thủ Đức cũ, một khu vực đô thị hóa nhanh với nhu cầu dịch vụ công chất lượng cao.
Mục đích của luận án là làm rõ vai trò của CBCC đối với chuyển đổi số, nhận diện các yếu tố tác động, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò này. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học chủ đạo, kết hợp thu thập thông tin thứ cấp, định lượng (khảo sát 620 CBCC và 400 người dân) và định tính (18 phỏng vấn sâu) trong giai đoạn 2020-2025. Bốn lý thuyết xã hội học kinh điển (hệ thống xã hội của Talcott Parsons, duy lý xã hội của Max Weber, lựa chọn duy lý của Coleman, phát triển công nghệ và biến đổi xã hội của Lenski) được vận dụng để xây dựng khung phân tích.
Luận án xác định năm vai trò cốt lõi mà CBCC cần đảm nhiệm: (1) đổi mới tư duy và phát triển kỹ năng, xây dựng văn hóa số; (2) phát triển hạ tầng, nền tảng số và đảm bảo an ninh thông tin; (3) số hóa và chia sẻ dữ liệu; (4) ứng dụng công nghệ vào cải cách hành chính; và (5) xây dựng, tổ chức chính sách bằng công nghệ số. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vai trò đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức được thực hiện tốt nhất, nhưng kỹ năng số và văn hóa số còn hạn chế, với sự phân hóa rõ rệt giữa tự đánh giá của CBCC và cảm nhận của người dân. Vai trò bảo đảm an toàn thông tin được đánh giá cao, nhưng phát triển hạ tầng và nền tảng số còn hạn chế. Hoạt động số hóa dữ liệu được triển khai khá đầy đủ, song việc sử dụng và chia sẻ dữ liệu còn rời rạc do thiếu nền tảng tích hợp và kỹ năng phân tích.
Ứng dụng công nghệ số trong quy trình tác nghiệp và xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách được thực hiện tương đương nhau, nhưng vẫn mang tính hình thức, tập trung vào xử lý hành chính hơn là cải cách chính sách chủ động. Các yếu tố như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, lĩnh vực công tác, sự hỗ trợ từ lãnh đạo, đào tạo, hạ tầng công nghệ và sẵn có thông tin đều tác động đáng kể đến việc thực hiện các vai trò này, đồng thời ảnh hưởng tích cực đến chất lượng dịch vụ công và sự hài lòng của người dân. Tuy nhiên, luận án cũng chỉ ra các thách thức như khối lượng công việc tăng lên và tình trạng quá tải do phân công chưa hợp lý, thiếu nhân sự và kỹ năng số.
Từ đó, luận án đề xuất các khuyến nghị cho TP. Hồ Chí Minh và cấp phường, xã nhằm hoàn thiện khung pháp lý, phân quyền, đầu tư hạ tầng số, lồng ghép chuyển đổi số vào đánh giá, thi đua, cũng như tăng cường đào tạo thực hành và chia sẻ kinh nghiệm để đảm bảo sự bền vững và toàn diện của tiến trình chuyển đổi số.