TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC MẮT TRONG BỆNH GLÔCÔM VÀ MÔ HÌNH CAN THIỆP Ở NGƯỜI DÂN TRÊN 40 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
Y TẾ CÔNG CỘNG
Luận án tập trung vào bệnh glôcôm, một bệnh lý thần kinh thị giác gây tổn thương không hồi phục và là nguyên nhân mù lòa không thể chữa được. Trên toàn thế giới, tỷ lệ hiện mắc glôcôm là 76 triệu người vào năm 2020 và dự kiến tăng lên 111,8 triệu người vào năm 2040, với Châu Á là châu lục có số bệnh nhân cao nhất. Tại Việt Nam, glôcôm là nguyên nhân mù hai mắt đứng thứ ba, với khoảng 329.300 người mù. Mặc dù sàng lọc phát hiện sớm và quản lý điều trị tốt là cách duy nhất để tránh mù lòa, nhưng phần lớn các trường hợp bệnh glôcôm không được chẩn đoán và người dân thường thiếu kiến thức, thái độ, thực hành đúng đắn về bệnh. Hệ thống cung cấp dịch vụ y tế, đặc biệt ở tuyến xã phường, còn hạn chế về trang thiết bị và năng lực chăm sóc mắt cho bệnh glôcôm.
Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Huế nhằm hai mục tiêu chính: mô tả tỷ lệ hiện mắc glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt (CSM) trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi năm 2017; và xây dựng, đánh giá mô hình can thiệp để tăng cường sử dụng dịch vụ này.
Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy tỷ lệ glôcôm ở người trên 40 tuổi tại Huế là 4,7%, với 9,1% người dân nghi ngờ glôcôm và 39,1% có yếu tố nguy cơ. Đáng lo ngại, 58,3% người mắc glôcôm không biết mình bị bệnh. Kiến thức, thái độ và thực hành tốt về bệnh glôcôm của người dân rất thấp (chỉ đạt 2,5-3,7% mức tốt), và chỉ 24,0% từng khám sàng lọc. Cán bộ y tế cơ sở cũng có kiến thức, thái độ, thực hành chưa tốt về bệnh glôcôm. Nghiên cứu đã xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ, thực hành tốt của người dân với khả năng sử dụng dịch vụ khám sàng lọc.
Mô hình can thiệp được xây dựng dựa trên ba nhóm giải pháp: nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở (về kỹ năng truyền thông, kiến thức, thái độ, thực hành phát hiện sớm glôcôm), truyền thông tích cực can thiệp thay đổi hành vi cho người dân, và can thiệp y tế (khám, điều trị, theo dõi, quản lý bệnh nhân glôcôm và cung cấp dịch vụ khám sàng lọc). Sau can thiệp, tại phường can thiệp, kiến thức, thái độ và thực hành tốt của cán bộ y tế đã cải thiện đáng kể (tăng lên lần lượt 94,3%, 94,3%, 77,1%). Đối với người dân, kiến thức tốt tăng từ 2,5% lên 49,1%, thái độ tốt tăng từ 3,4% lên 51,6%, và thực hành tốt tăng từ 2,3% lên 46,3%. Tỷ lệ người dân khám sàng lọc tăng từ 26,9% lên 59,0%, và tỷ lệ bệnh nhân glôcôm được điều trị tăng từ 33,3% lên 60,9%. Tình trạng bệnh của bệnh nhân glôcôm ở nhóm can thiệp duy trì ổn định với tỷ lệ 98,8%. Mô hình can thiệp này đã chứng minh hiệu quả trong việc tận dụng thế mạnh của y tế cơ sở để góp phần phát hiện sớm, điều trị kịp thời và bảo tồn thị lực cho bệnh nhân glôcôm.