info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con 0-25 tháng tuổi tại 3 tỉnh Hà Nam, Quảng Bình, Lào Cai và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, 2013-2015

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON 0 - 25 THÁNG TUỔI TẠI 3 TỈNH HÀ NAM, QUẢNG BÌNH, LÀO CAI VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP, 2013-2015

Ngành:

Y tế công cộng (Mã số: 62 72 03 01)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con 0 - 25 tháng tuổi tại 3 tỉnh Hà Nam, Quảng Bình, Lào Cai và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, 2013-2015" của Đặng Cẩm Tú, ngành Y tế công cộng, được hoàn thành tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương vào năm 2018.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: một là mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) của phụ nữ có con từ 0-25 tháng tuổi tại ba tỉnh Hà Nam, Lào Cai, Quảng Bình vào năm 2012; hai là đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với kiến thức và thái độ về NCBSM của nhóm phụ nữ này từ năm 2013 đến 2015.

Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy, 92,4% trẻ được bú mẹ sau sinh, với 73,6% được bú ngay trong 1 giờ đầu. Về kiến thức, 74,0% bà mẹ biết nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, nhưng chỉ 43,3% thực hành đúng. Đa số (61,2%) bà mẹ cho rằng thời gian cai sữa tốt nhất là khi trẻ được 24 tháng tuổi, song tỷ lệ thực hành đúng chỉ đạt 16,1%, với 34,4% trẻ bị cai sữa sớm trước 18 tháng tuổi và 5,8% dưới 12 tháng tuổi. Các lợi ích của sữa mẹ như chứa kháng thể (57,6%), đủ dinh dưỡng (49,9%), giúp trẻ khỏe mạnh (36,5%) được nhiều bà mẹ biết đến. Nguồn thông tin chính về NCBSM chủ yếu từ tivi, đài báo (72,2%), cán bộ y tế (26,4%) và người thân (21,7%). Hầu hết phụ nữ có thái độ tích cực về NCBSM (khoảng 90%), nhưng 42,7% vẫn đồng ý hoặc rất đồng ý với quan điểm không nên cho con bú nơi công cộng.

Luận án cũng chỉ ra rằng can thiệp giáo dục truyền thông thông qua mô hình câu lạc bộ nuôi con bằng sữa mẹ đã đạt hiệu quả đáng kể. Sau can thiệp, kiến thức và thái độ tích cực của bà mẹ về NCBSM, bao gồm bú sớm sau sinh, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, thời điểm cai sữa và nhận thức về lợi ích của sữa mẹ, đều có sự cải thiện rõ rệt. Điểm mới của luận án là việc đúc kết mô hình sinh hoạt câu lạc bộ và truyền thông giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng trong việc khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho các giải pháp can thiệp truyền thông hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ bà mẹ và trẻ em.

Tài liệu liên quan