Thực trạng hành vi nguy cơ nhiễm HIV của vợ/chồng người nhiễm HIV/AIDS đang được quản lý tại phòng khám ngoại trú và hiệu quả can thiệp ở Điện Biên, Cần Thơ.
Quản lý y tế.
Luận án tiến sĩ y học này, được hoàn thành tại Học viện Quân y vào năm 2020, tập trung nghiên cứu thực trạng dịch HIV/AIDS tại Việt Nam, nơi dịch bệnh về cơ bản đã được kiểm soát. Nghiên cứu đi sâu vào hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của các cặp vợ/chồng có một người nhiễm HIV/AIDS đang được quản lý tại các phòng khám ngoại trú ở tỉnh Điện Biên và thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2013-2014, đồng thời đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp.
Mục tiêu chính của luận án bao gồm: 1) Mô tả thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ của các cặp vợ/chồng có một người nhiễm HIV tại hai địa bàn nghiên cứu, và 2) Đánh giá hiệu quả của điều trị ARV cho người nhiễm HIV/AIDS cũng như dự phòng lây nhiễm HIV cho vợ/chồng âm tính.
Đối tượng nghiên cứu là các cặp vợ/chồng hoặc bạn tình đang sống chung, trong đó một người được xác định nhiễm HIV. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi thiết kế sẵn tại các thời điểm trước và sau can thiệp (3, 6, 12 và 60 tháng), cùng với phân tích số liệu thứ cấp từ hồ sơ bệnh án.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đa số người nhiễm HIV trong mẫu nghiên cứu có độ tuổi từ 18-40 (85,0%), với tỷ lệ thất nghiệp và nghề tự do cao. Thu nhập của người nhiễm HIV và vợ/chồng họ ở Điện Biên thường thấp (< 5 triệu đồng/tháng). Về tình trạng sức khỏe, tỷ lệ người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 thấp (mức nguy hiểm và rất cao) chiếm 64,3% và tải lượng vi rút cao (có nguy cơ lây nhiễm) chiếm 95,3%. Tỷ lệ đồng nhiễm lao chung là 8,2%, với Cần Thơ cao hơn đáng kể (27,8% so với 1,0% ở Điện Biên). Hành vi nguy cơ trong nhóm vợ/chồng người nhiễm HIV bao gồm uống rượu/bia (75,4% dưới một lần/tuần, 12,7% hàng tuần) và sử dụng ma túy. Khoảng 25,4% người nhiễm HIV có phản ứng không mong muốn với ARV.
Hiệu quả can thiệp được đánh giá cao, thể hiện qua việc tăng số lượng tế bào CD4 (tăng +47,2% sau 60 tháng) và giảm đáng kể tải lượng vi rút (giảm 98,3% mức nguy cơ sau 60 tháng, với 98,4% đạt tải lượng vi rút không phát hiện hoặc rất tốt). Xác suất lây nhiễm HIV tích lũy cho vợ/chồng âm tính dao động ở mức thấp (1,65% sau 3 tháng đến 3,28% sau 60 tháng). Luận án này cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và hiệu quả của các chương trình can thiệp HIV/AIDS, góp phần vào công tác quản lý y tế và dự phòng lây nhiễm.