Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người DTTS và hiệu quả tăng cường hoạt động của cô đỡ thôn bản tại tỉnh Ninh Thuận
Không có thông tin trong văn bản được cung cấp.
Luận án nghiên cứu "Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người DTTS và hiệu quả tăng cường hoạt động của cô đỡ thôn bản tại tỉnh Ninh Thuận" nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản (CSSKSS) của phụ nữ DTTS từ 15-49 tuổi tại 4 xã thuộc Ninh Thuận năm 2013 và đánh giá hiệu quả can thiệp tăng cường vai trò của Cô đỡ thôn bản (CĐTB) từ 2013-2016. Đề tài được tiến hành trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe phụ nữ luôn là ưu tiên quốc gia, tuy nhiên, nhóm DTTS ở vùng khó khăn vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong tiếp cận dịch vụ y tế, dẫn đến tỷ suất sinh thô cao và tình trạng tảo hôn còn tồn tại. Luận án gồm 112 trang, với các phần đặt vấn đề, tổng quan, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, kết quả, bàn luận, kết luận và kiến nghị.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, trước can thiệp, chỉ 51,6% phụ nữ khám thai đủ 3 lần, 81,8% tiêm phòng uốn ván, và 28,3% không đến cơ sở y tế để sinh đẻ, chủ yếu do khó khăn đi lại. Mặc dù 78,3% được chăm sóc sau đẻ tại nhà và 96,2% được hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng vẫn còn tỷ lệ đáng kể phụ nữ nhờ người nhà hoặc mụ vườn chăm sóc. Sau can thiệp, kiến thức và thực hành CSSKSS của phụ nữ DTTS đã cải thiện đáng kể. Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức khám thai ≥ 3 lần tăng từ 36,4% lên 61,4% (CSHQ=68,5%), tỷ lệ khám thai ≥ 3 lần thực hành tăng từ 51,6% lên 68,8% (CSHQ=33,4%). Tỷ lệ không khám thai giảm từ 10% xuống 1%. Tỷ lệ tiêm vắc xin uốn ván tăng từ 81,8% lên 95,7%. Tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế tăng lên 88,1% (CSHQ=30,7%), đồng thời giảm đáng kể tỷ lệ sinh tại nhà, rừng hoặc đẻ rơi. Vai trò của CĐTB trong việc hỗ trợ đỡ đẻ được cải thiện, từ 6,7% lên 14,6% (CSHQ=114,3%). Kiến thức về các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai, chuyển dạ và sau sinh, cùng với các cách xử trí khoa học cũng được nâng cao rõ rệt, thay thế các phương pháp truyền thống lạc hậu. CĐTB được đánh giá cao trong tuyên truyền các biện pháp tránh thai và quản lý thai nghén.
Đề tài khẳng định vai trò và tính khả thi của mô hình CĐTB, khuyến nghị duy trì và mở rộng mô hình này, tiếp tục đào tạo CĐTB, hỗ trợ trang thiết bị y tế và bổ sung nguồn nhân lực cho các vùng DTTS khó khăn tại Ninh Thuận và các khu vực tương tự trên cả nước.
Luận án gồm 112 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục, được chia thành các phần:
Luận án cũng bao gồm 25 bảng và 10 biểu đồ. Tài liệu tham khảo gồm 103 tài liệu (62 tiếng Việt, 41 tiếng Anh).