QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luật Hiến Pháp – Luât Hành Chính
Mã số: 9380102
Luận án "Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay" nghiên cứu về biểu diễn nghệ thuật (BDNT) – một hoạt động có giá trị văn hóa, tinh thần và đóng góp kinh tế quan trọng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, BDNT được xem là ngành trọng yếu của công nghiệp văn hóa, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và quảng bá văn hóa quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng quản lý nhà nước (QLNN) về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng, mục tiêu và động lực phát triển bền vững. Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 đã xác định nghệ thuật biểu diễn (NTBD) là một trong 12 lĩnh vực công nghiệp văn hóa, với mục tiêu đóng góp 7% GDP đến năm 2030. Do đó, nâng cao hiệu quả QLNN đối với BDNT là nhiệm vụ trọng tâm để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Mục đích của luận án là phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về BDNT và QLNN về BDNT, đánh giá các tồn tại, hạn chế của pháp luật và thực tiễn QLNN trong bối cảnh hiện tại, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về BDNT, hướng tới mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Để đạt được mục đích này, luận án tập trung vào các nhiệm vụ: làm sáng tỏ lý luận cơ bản (khái niệm BDNT, QLNN về BDNT, sự cần thiết, yếu tố tác động, kinh nghiệm quốc tế); nghiên cứu pháp luật hiện hành và thực trạng QLNN về BDNT, phân tích ưu điểm, hạn chế; và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả QLNN đối với BDNT.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm các hình thức BDNT (truyền thống và hiện đại) trên lãnh thổ Việt Nam, dưới góc độ giá trị văn hóa truyền thống và giá trị kinh tế. Về thời gian, luận án tập trung vào pháp luật hiện hành, so sánh quy định từ 1995-2012 và từ 2012 đến nay. Về không gian, nghiên cứu các hoạt động QLNN trực tiếp và trực tuyến trên phạm vi Việt Nam.
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, bình luận, diễn giải; so sánh – đối chiếu (luật học so sánh); lịch sử, thống kê, trao đổi với chuyên gia; nghiên cứu liên ngành (kết hợp các học thuyết kinh tế và pháp lý); cùng với phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về đóng góp mới, luận án tiếp cận lý luận dựa trên quyền, nghiên cứu BDNT dưới góc độ quyền của người biểu diễn, quyền hưởng thụ văn hóa của công chúng, và quyền của các cá nhân, tổ chức. Luận án phân tích rõ khái niệm BDNT, các hình thức thực hiện, sự cần thiết QLNN cho từng loại hình, và khái niệm QLNN về BDNT phù hợp với Chiến lược phát triển văn hóa. Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN, vừa phát huy giá trị truyền thống vừa khai thác BDNT như một ngành công nghiệp văn hóa. Về thực tiễn, luận án phân tích quy định pháp luật qua hai giai đoạn (đặc biệt là Nghị định 79/2012 và 144/2020), chỉ ra tồn tại, thách thức trong quy định cấm và việc cấp phép. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, luận án đề xuất nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật, nhằm tạo hành lang pháp lý phù hợp với cách mạng công nghệ 4.0 và toàn cầu hóa, đồng thời bảo đảm giữ gìn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể.