info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu tác dụng làm mềm, mở cổ tử cung của sonde Foley cải tiến trong gây chuyển dạ

Năm2019
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu tác dụng làm mềm mở cổ tử cung của sonde Foley cải tiến trong gây chuyển dạ

Ngành:

Thông tin về ngành học cụ thể không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này nghiên cứu về tác dụng của sonde Foley cải tiến trong gây chuyển dạ (GCD), đặc biệt tập trung vào khả năng làm mềm và mở cổ tử cung (CTC) so với bóng Cook. Đặt vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực trạng GCD chiếm tỷ lệ cao (9,6% - 23,3% thai nghén) nhưng 25% trường hợp phải mổ lấy thai do CTC không thuận lợi. Hai phương pháp chính để làm chín muồi CTC là hóa học và cơ học, trong đó phương pháp cơ học được ưu tiên do ít tai biến hơn. Bóng Cook đã được ứng dụng rộng rãi nhưng có giá thành cao, thúc đẩy Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW) sáng chế sonde Foley cải tiến hai bóng với chi phí thấp hơn.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là so sánh hiệu quả làm mềm, mở CTC của sonde Foley cải tiến với bóng Cook trong GCD và phân tích các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, không đối chứng, có so sánh tại khoa Đẻ BVPSTW từ tháng 12/2014 đến tháng 4/2019. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 300 sản phụ (150 mỗi nhóm) có thai đơn, ngôi đầu, tuổi thai ≥ 37 tuần, màng ối nguyên vẹn và chỉ số Bishop CTC < 6 điểm, không có chống chỉ định sinh đường âm đạo hoặc bệnh lý toàn thân nặng.

Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về phương pháp dùng ống thông hai bóng (bóng sonde Foley cải tiến và bóng Cook) để làm mềm mở CTC trong GCD. Luận án đã xây dựng quy trình sử dụng cho cả hai loại bóng. Kết quả cho thấy tỷ lệ làm mềm mở CTC thành công của bóng Cook là 89,3%, cao hơn sonde Foley cải tiến là 78,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ đẻ đường âm đạo ở nhóm sử dụng sonde Foley cải tiến lại cao hơn (81,33%) so với nhóm bóng Cook (63,33%), và thời gian trung bình từ khi đặt bóng đến khi đẻ cũng ngắn hơn ở nhóm sonde Foley cải tiến (13,5 ± 4,8 giờ so với 16,8 ± 7,1 giờ). Tai biến ở cả sản phụ và trẻ sơ sinh đều rất hiếm gặp với cả hai loại bóng. Điểm đáng chú ý là sonde Foley cải tiến có giá thành rẻ hơn đáng kể (97.000 đồng/cái) so với bóng Cook (2.970.000 đồng/cái). Các yếu tố như tuổi sản phụ > 35, BMI ≥ 25, sinh con so, và chiều dài CTC > 30mm trước GCD được xác định là có ảnh hưởng đến kết quả.

Mục lục chi tiết:

  • Luận án có 116 trang, 4 chương, 24 bảng và 1 biểu đồ
  • Đặt vấn đề: 2 trang
  • Chương 1: Tổng quan: 36 trang
  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 26 trang
  • Chương 3: Kết quả: 21 trang
  • Chương 4: Bàn luận: 30 trang
  • Kết luận: 2 trang
  • Kiến nghị: 01 trang
  • Có 153 tài liệu tham khảo
  • Các công trình liên quan đến luận án
  • Phụ lục: một số hình ảnh, phiếu thu thập số liệu, danh sách bệnh nhân

Tài liệu liên quan