info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Nghiên cứu một số phương pháp tổng hơp ̣ pregnan và một số dẫn xuất của chúng từ 9α-hydroxy androstendion

Năm2017
Lĩnh vựcKhoa học tự nhiên
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không được cung cấp trong văn bản.

Ngành:

Hóa dược, Công nghệ sinh học và Tổng hợp hóa học.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Mở đầu tài liệu trình bày bối cảnh ngành dược Việt Nam đang đối mặt với thách thức lớn về sự phụ thuộc vào nhập khẩu, với 90% hoạt chất và 100% thuốc gốc steroid phải nhập từ nước ngoài, trong khi nền công nghiệp hóa dược còn sơ khai. Để giải quyết vấn đề này, Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2014 đã phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam, đặt mục tiêu đến năm 2020, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị tiêu thụ và sản xuất được 20% nhu cầu nguyên liệu.

Tài liệu nhấn mạnh định hướng ưu tiên khai thác các nguồn hợp chất thiên nhiên như sterol đậu tương và flavonoid, được xem là thế mạnh của ngành hóa dược Việt Nam. Sự chuyển dịch từ các nguyên liệu truyền thống đắt đỏ như diosgenin và solasodine sang sterol thực vật (phytosterol) được thu hồi từ phế phụ thải công nghiệp (giấy, mía đường, dầu đậu tương) là một giải pháp kinh tế và môi trường. Thành tựu trong việc phát minh các chủng vi sinh có khả năng phân cắt chọn lọc mạch bên sterol thành 17-ketosteroid (androstenedione (AD), androstadienedione (ADD), 9a-hydroxyandrostenedione (9a-OH AD)) đã mở ra con đường mới cho bán tổng hợp dược phẩm steroid, tương tự như các ứng dụng của các công ty dược lớn trên thế giới.

Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Lưu Đức Huy và cộng sự đã tiên phong trong việc phát triển các phương pháp chuyển hóa sterol thành corticoid thông qua 17-ketosteroid trung gian, nhằm thay thế các nguyên liệu cũ. Các thành tựu bao gồm công bố năm 2006 về chuyển hóa vi sinh hiệu quả phytosterol Việt Nam đến AD và ADD, cùng với dự án hợp tác với Liên bang Nga từ năm 2007 về công nghệ vi sinh chuyển hóa phytosterol đến AD và 9a-OH AD với hiệu suất cao (đạt trung bình 70% và 75-80%), được cải tiến nhờ áp dụng phương pháp xúc tác Immobil. Nhiệm vụ trọng tâm tiếp theo là xây dựng mạch bên pregnane, với các phương pháp cyanohydrin và acetylene được đánh giá có triển vọng ứng dụng nhất.

Tài liệu liên quan