info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2013

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2013

Ngành:

Giải phẫu bệnh – Y pháp

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2013" là một công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng hóa mô miễn dịch để phân loại mô bệnh học (MBH) sarcom xương theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2013. Nghiên cứu không chỉ tập trung vào việc phân loại MBH mà còn đánh giá mối tương quan giữa các kết quả MBH với chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm của bệnh nhân sarcom xương.

Nghiên cứu đã tiến hành phân típ MBH trên 123 trường hợp sarcom xương nguyên phát. Kết quả cho thấy các típ MBH độ cao chiếm tỷ lệ đáng kể 98,4%, trong đó sarcom xương nguyên bào xương là phổ biến nhất (54,5%), tiếp theo là sarcom xương nguyên bào xơ (15,4%) và sarcom xương nguyên bào sụn (9,8%). Sarcom xương độ thấp chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ 1,6%. Về mối tương quan với CĐHA, luận án xác định rằng góc Codman là đặc trưng cho sarcom xương độ cao trên CĐHA (p < 0,05), trong khi hình ảnh phồng vỏ xương đặc trưng cho sarcom xương độ thấp trên CĐHA (p < 0,05). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự tương đồng đáng kể giữa chẩn đoán tổn thương mô mềm trên lâm sàng so với CĐHA (K= -0,022, p < 0,05). Mặc dù có sự tương đồng ở mức thấp giữa chẩn đoán tổn thương khớp trên lâm sàng so với trên các phương tiện CĐHA (K = 0,113, p = 0,05), luận án khẳng định rằng việc phối hợp cả ba phương pháp lâm sàng, CĐHA và giải phẫu bệnh đạt được tỷ lệ chẩn đoán đúng 100%.

Về tiên lượng sống thêm, luận án cung cấp dữ liệu quan trọng: thời gian sống thêm toàn bộ sau 3 năm là 63,0%, và sau 5 năm là 44,7%. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng cho thấy giai đoạn Enneking và phương pháp điều trị có ý nghĩa tiên lượng độc lập với xác suất sống thêm toàn bộ. Vị trí u, kích thước u và diện tổn thương của u cũng có mối tương quan có ý nghĩa thống kê với tiên lượng bệnh trong phân tích đa biến (p ≈ 0,05), tuy nhiên mối tương quan này không được tìm thấy trong phân tích đơn biến. Một phát hiện đáng chú ý khác là nghiên cứu chưa tìm thấy mối tương quan giữa típ MBH và độ mô học với tiên lượng sống thêm toàn bộ của người bệnh.

Tài liệu liên quan