Nghiên cứu khí động học, trao đổi nhiệt và đánh giá vòng đời công nghệ lớp sôi tuần hoàn để sản xuất điện
Không có thông tin về ngành học cụ thể trong văn bản được cung cấp.
Tài liệu trình bày nghiên cứu về công nghệ lớp sôi tuần hoàn (CFB) trong sản xuất điện tại Việt Nam, nhằm giải quyết các tồn tại trong thiết kế, vận hành và bảo dưỡng. Nghiên cứu tập trung vào cơ chế tuần hoàn hạt và trao đổi nhiệt trong buồng đốt CFB, cùng với việc lượng hóa tác động của các thông số vận hành. Đồng thời, đề tài nhận dạng và lượng hóa ưu điểm của công nghệ CFB về bảo vệ môi trường thông qua phân tích vòng đời, so sánh với công nghệ đốt than truyền thống (PF).
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: i) xác định ảnh hưởng của các thông số vận hành (vận tốc gió sơ cấp, vận tốc gió tuần hoàn hạt, đường kính hạt, khối lượng lớp sôi) đến tốc độ tuần hoàn hạt (SCR); ii) nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số vận hành (tốc độ cấp gió dưới ghi, đường kính hạt, nhiệt độ lớp sôi) đến hệ số trao đổi nhiệt giữa lớp sôi và tường buồng đốt; và iii) nhận dạng, lượng hóa tiềm năng giảm phát thải CO2 của CFB so với công nghệ đốt than truyền thống.
Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình CFB ở điều kiện nhiệt độ môi trường, tập trung vào khí động học và trao đổi nhiệt. Nghiên cứu vòng đời giới hạn ở ba khâu: khai thác than, vận chuyển than và đốt than tại nhà máy nhiệt điện, chỉ xét phát thải CO2. Các phương pháp bao gồm thu thập thông tin, nghiên cứu thực nghiệm tại Viện Khoa học và Công nghệ Nhiệt lạnh – Đại học Bách khoa Hà Nội, và phân tích vòng đời tại các nhà máy điện Na Dương và Uông Bí.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra các biểu thức thực nghiệm về mối quan hệ giữa các thông số vận hành với tốc độ tuần hoàn hạt và hệ số trao đổi nhiệt. Các kết quả này cho phép đánh giá ảnh hưởng của từng thông số, hỗ trợ việc lựa chọn chế độ vận hành tối ưu, nâng cao hiệu suất cháy và truyền nhiệt. Đồng thời, nghiên cứu vòng đời đã xây dựng mô hình so sánh công nghệ, tính toán chi phí biên giảm phát thải CO2, cho thấy công nghệ CFB có tiềm năng giảm phát thải CO2 đáng kể (ví dụ, giảm 31,46% tại Na Dương so với Uông Bí PF) và khả thi về kinh tế, môi trường, không đòi hỏi kinh phí hỗ trợ bổ sung.