Nghiên cứu kháng thể kháng HLA người cho và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ghép thận
(Không được đề cập rõ ràng trong tài liệu)
Nghiên cứu này tập trung vào vai trò của kháng thể kháng HLA người cho (HLA-DSA) và mối liên quan của chúng với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ghép thận, đặc biệt tại Việt Nam, nơi còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về miễn dịch ghép. Ghép thận được coi là lựa chọn ưu tiên cho bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối, tuy nhiên, sự hồi phục chức năng thận ghép và các biến chứng như trì hoãn chức năng thận ghép (DGF) là những vấn đề cần quan tâm. DGF, một tình trạng tổn thương thận cấp tính trong tuần đầu sau ghép, có liên quan đến tỷ lệ thải ghép cấp tính cao hơn và thời gian sống của mảnh ghép ngắn hơn.
Cơ sở khoa học của thải ghép được giải thích bởi sự khác biệt về kháng nguyên nhóm máu và kháng nguyên hòa hợp tổ chức (HLA) giữa người cho và người nhận, kích hoạt phản ứng miễn dịch. Sự mẫn cảm với HLA trước ghép, hình thành kháng thể kháng HLA do mang thai, truyền máu hoặc ghép tạng trước đó, là yếu tố quan trọng. Kháng thể kháng HLA đặc hiệu người cho (HLA-DSA) được định nghĩa là kháng thể kết hợp với vùng peptit của người cho không có ở người nhận. Chúng có thể hình thành sẵn trước ghép hoặc mới xuất hiện sau ghép, với tần suất 10-4% ở người ghép tạng nói chung. Các yếu tố nguy cơ cho sự xuất hiện HLA-DSA sau ghép bao gồm mức độ không hòa hợp HLA cao, ức chế miễn dịch không đầy đủ và không tuân thủ điều trị.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 152 bệnh nhân ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 02/2018 đến tháng 04/2020. Mục tiêu chính là khảo sát đặc điểm kháng thể kháng HLA trước ghép và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng được xác định rõ ràng.
Kết quả ban đầu cho thấy đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 39,38 ± 11,84, đa số là nam (57,2%). Viêm cầu thận mạn tính là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối (88,8%). Tỷ lệ giảm chức năng thận sau ghép là 33,6%, trong đó DGF chiếm 10,5%. Về đặc điểm HLA và kháng thể kháng HLA (PRA) trước ghép, số alen HLA hòa hợp trung bình là 2,9, với hòa hợp 3/6 chiếm tỷ lệ cao nhất (32,9%). Tỷ lệ tiền mẫn cảm âm tính (PRA (-)) là 68,4%, trong khi không có bệnh nhân nào có HLA-DSA trước ghép. Mức độ hòa hợp HLA cao hơn đáng kể ở nhóm ghép cùng huyết thống so với không cùng huyết thống (p < 0,05). Đặc biệt, phần trăm tiền mẫn cảm trung bình ở bệnh nhân nữ (6,9%) cao hơn đáng kể so với nam (2%) (p < 0,01).