info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu hiệu quả của phác đồ ngắn/ hMG và phác đồ ngắn/rFSH để xử trí buồng trứng đáp ứng kém trong thụ tinh ống nghiệm

Năm2014
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không có thông tin trong văn bản được cung cấp.

Ngành:

Không có thông tin trong văn bản được cung cấp.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu về quá trình kích thích buồng trứng (KTBT) trong thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), một khâu then chốt trong điều trị vô sinh, khi khoảng 10-20% chu kỳ có đáp ứng buồng trứng kém. Nghiên cứu so sánh hiệu quả của hai phác đồ KTBT chính: phác đồ ngắn sử dụng hMG và phác đồ ngắn sử dụng rFSH. Các đặc điểm chung của bệnh nhân giữa hai nhóm nghiên cứu được đánh giá là đồng nhất về tuổi, nồng độ FSH cơ bản, chỉ số BMI và số nang thứ cấp (AFC).

Nghiên cứu đã xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến đáp ứng buồng trứng kém, bao gồm tuổi từ 35 trở lên (nguy cơ cao gấp 2,23 lần), nồng độ FSH cơ bản từ 10 IU/l trở lên (nguy cơ cao gấp 2,31 lần), số nang thứ cấp AFC từ 5 trở xuống (nguy cơ cao gấp 2,9 lần), nồng độ E2 ngày 7 từ 300 pg/ml trở xuống (nguy cơ cao gấp 12,9 lần) và nồng độ LH ngày 7 từ 1,2 IU/l trở xuống (nguy cơ cao gấp 2,55 lần).

Phân tích hồi quy đa biến chỉ ra rằng số noãn thu được có tương quan nghịch với tuổi và nồng độ FSH ngày 3, trong khi tương quan đồng biến với số nang từ 14 mm trở lên và nồng độ E2 vào ngày tiêm hCG. Số noãn trung bình tăng đáng kể theo nồng độ E2 ngày tiêm hCG (p=0,001).

Về kết quả lâm sàng, tỷ lệ làm tổ cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân có ít nhất một phôi độ 3 (OR 7,66). Tỷ lệ có thai lâm sàng cũng cao hơn ở những bệnh nhân có tuổi dưới 35, nồng độ FSH cơ bản dưới 10 IU/l, độ dày nội mạc tử cung (NMTC) trên 8 mm (OR 3,0), nồng độ P4 ngày tiêm hCG dưới 1,5 nmol/l (OR 1,8) và có ít nhất một phôi độ 3 (OR 3,2).

Kết quả tổng thể cho thấy phác đồ ngắn/hMG mang lại tỷ lệ thai lâm sàng trên mỗi chu kỳ (20,1% so với 16,4%) và tỷ lệ thai lâm sàng trên mỗi lần chuyển phôi (22,1% so với 17,1%) tốt hơn có ý nghĩa thống kê so với phác đồ ngắn/rFSH. Từ những kết quả này, luận án kiến nghị nên áp dụng phác đồ ngắn/hMG để KTBT cho nhóm bệnh nhân có tiền sử hoặc nguy cơ đáp ứng buồng trứng kém trong TTTON, đồng thời khuyến nghị cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về hMG trên các nhóm bệnh nhân và các phác đồ KTBT khác.

Mục lục chi tiết:

  • Chương 1: Tổng quan tài liệu, 36 trang
  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp NC, 17 trang
  • Chương 3: Kết quả NC, 16 trang
  • Chương 4: Bàn luận, 34 trang

Tài liệu liên quan