Nghiên cứu điều trị bệnh lý nội mô giác mạc bằng phẫu thuật ghép nội mô DSAEK
NHÃN KHOA
Luận án "Nghiên cứu điều trị bệnh lý nội mô giác mạc bằng phẫu thuật ghép nội mô DSAEK" tập trung giải quyết vấn đề mất bù nội mô giác mạc, một tình trạng gây mờ đục và giảm thị lực nghiêm trọng. Phẫu thuật ghép giác mạc nội mô tự động có bóc màng Descemet (DSAEK) được giới thiệu là phương pháp hiệu quả, mang lại kết quả cải thiện về chất lượng ghép, thời gian sống của mảnh ghép, phục hồi thị lực nhanh hơn, giảm loạn thị và tỉ lệ thải ghép so với các phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật tương đối mới tại Việt Nam, cần nghiên cứu sâu rộng hơn để hoàn thiện.
Đề tài được thực hiện với hai mục tiêu chính: đánh giá kết quả điều trị và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của phẫu thuật DSAEK. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng được tiến hành trên 53 mắt của 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 7/2013 đến tháng 3/2015. Đối tượng là bệnh nhân có tổn thương nội mô giác mạc mất bù, với chỉ định phổ biến nhất là bệnh giác mạc bọng sau phẫu thuật nội nhãn (75,5%). Mảnh ghép được sử dụng có tuổi người hiến trung bình 62,3 tuổi và thời gian bảo quản trung bình 10,2 ngày.
Các kết quả cho thấy thị lực bệnh nhân cải thiện đáng kể sau phẫu thuật. Sau 12 tháng, tỉ lệ mắt có thị lực mức mù lòa giảm từ 81,1% xuống 17,4%, với 37% đạt thị lực trên 20/60. Khúc xạ nhãn cầu trung bình sau 12 tháng là +1,53 ± 1,26D, trong đó 62,8% mắt bị viễn thị. Loạn thị trung bình giảm từ 3,25 ± 2,85D trước cắt chỉ xuống 1,36 ± 1,08D sau 12 tháng (p < 0,05). Độ dày giác mạc toàn bộ và mảnh ghép tăng nhẹ sau mổ 1 tháng, sau đó giảm dần và ổn định từ 6 tháng. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ dày giác mạc sau mổ 1 và 3 tháng giữa nhóm thành công và thất bại. Nhóm thất bại có giác mạc dày hơn hoặc tái dày lên ở thời điểm muộn. Nghiên cứu đã cung cấp những đánh giá toàn diện về hiệu quả và các yếu tố liên quan đến phẫu thuật DSAEK, góp phần hoàn thiện kỹ thuật này trong điều trị bệnh lý nội mô giác mạc.