NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN VÙNG MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG NẸP KHOÁ
Ngoại khoa
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm tổn thương, kết quả điều trị gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi bằng kết hợp xương nẹp khoá" được thực hiện với mục tiêu chính là nhận xét đặc điểm tổn thương gãy vùng mấu chuyển xương đùi (VMCXĐ) trên phim X-quang quy ước và chụp cắt lớp vi tính (CLVT), đồng thời đánh giá kết quả điều trị gãy kín VMCXĐ bằng phương pháp kết hợp xương (KHX) nẹp khoá tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên.
Gãy kín VMCXĐ là một dạng gãy đầu trên xương đùi ngoài bao khớp, thường gặp ở người cao tuổi và bệnh nhân loãng xương. Mặc dù điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật KHX và nẹp khóa đã cho thấy kết quả khả quan, nhưng các trường hợp gãy không vững vẫn còn nhiều thách thức. Luận án đặt ra vấn đề về sự thiếu hụt nghiên cứu chi tiết về đặc điểm tổn thương giải phẫu trên phim CLVT và vai trò của nó trong việc lựa chọn phương pháp điều trị KHX nẹp khóa phù hợp, đặc biệt tại Việt Nam.
Nghiên cứu được tiến hành trên 101 bệnh nhân gãy VMCXĐ do chấn thương, điều trị tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên từ tháng 9/2015 đến 5/2020. Trong số này, 61 bệnh nhân được phẫu thuật KHX bằng nẹp khóa. Tất cả các trường hợp đều có đầy đủ hồ sơ bệnh án, phim X-quang quy ước và phim CLVT có dựng hình 3D. Phương pháp nghiên cứu là tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc.
Đóng góp mới của luận án bao gồm việc phân loại đặc điểm gãy VMCXĐ theo AO, với đủ 3 loại A1, A2, A3. Nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi rõ rệt về tỷ lệ các loại gãy khi phân loại dựa trên CLVT so với X-quang quy ước (A1 giảm, A2 tăng). Cụ thể, phân loại X-quang chỉ phù hợp với CLVT ở 57,42% trường hợp, dẫn đến khuyến cáo mạnh mẽ về việc sử dụng CLVT để xây dựng kế hoạch điều trị chính xác. Kết quả điều trị 61 bệnh nhân bằng phẫu thuật KHX nẹp khóa cũng được ghi nhận, cung cấp dữ liệu tham khảo giá trị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 71,7 ± 15,6 tuổi, với tỷ lệ nữ giới chiếm 53,47%. Gãy 3 phần là loại phổ biến nhất trên X-quang. Trên phim CLVT, đường gãy trước gặp ở 100% bệnh nhân, đường gãy sau 91,09% và đường gãy bên ngoài 52,48%. CLVT đã phát hiện nhiều mảnh gãy hơn so với X-quang, làm tăng số trường hợp gãy 3 phần và thay đổi phân loại AO. Hai loại gãy 3 phần phổ biến nhất là có mảnh tách lớn phía sau và chỏm mấu chuyển lớn - mấu chuyển bé - thân xương, thường gặp ở loại gãy A2 theo phân loại CLVT. Kết quả điều trị gần ghi nhận 96,72% trường hợp liền vết mổ.