Không được đề cập trong tài liệu.
Không được đề cập trực tiếp trong tài liệu.
Tài liệu này trình bày về bệnh động mạch vành (ĐMV), đặc biệt là nhồi máu cơ tim (NMCT), như một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng tại các nước phát triển và đang phát triển, bao gồm Việt Nam. Phương pháp Can thiệp động mạch vành qua da (PCI), được Andreas Grüntzig thực hiện lần đầu tiên vào năm 1977, đã có nhiều tiến bộ vượt bậc và mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh ĐMV. Một báo cáo tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam (2003-2004) ghi nhận tỷ lệ thành công của PCI đạt 92,4%, với các biến chứng như tử vong (5,1%), rối loạn nhịp tim (1,2%) và tắc ĐMV cấp (3,6%).
Luận án có tổng cộng 118 trang, bao gồm 4 chương chính: Đặt vấn đề, Tổng quan, Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, Bàn luận, Kết luận và Kiến nghị. Phần Tổng quan mô tả chi tiết kỹ thuật PCI, bao gồm nong bóng và đặt Stent, đồng thời liệt kê các biến chứng nội khoa (hội chứng tái tưới máu, rối loạn nhịp tim trong thủ thuật, bệnh thận do thuốc cản quang) và biến chứng tại đường vào động mạch. Các yếu tố nguy cơ lâm sàng, cận lâm sàng và giải phẫu bệnh cũng được đề cập.
Chương Đối tượng và phương pháp nghiên cứu trình bày thiết kế nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trong 24 giờ trên 511 bệnh nhân tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam, được chia thành nhóm PCI cấp cứu và PCI có chuẩn bị. Luận án chi tiết các bước tiến hành, tiêu chuẩn chọn/loại trừ bệnh nhân, quy trình khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng, chỉ định PCI, tiêu chuẩn đánh giá kết quả thủ thuật và biến chứng, cũng như các yếu tố nguy cơ được đánh giá thông qua thang điểm Mayo Clinic Risk Score và New York Risk Score. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 với các thuật toán thống kê như T-test, χ2, tính OR và đường cong ROC.
Chương Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng tổng thể là 22,7% trong 24 giờ đầu thủ thuật. Nhóm PCI cấp cứu có tỷ lệ biến chứng cao hơn đáng kể (30,2%) so với nhóm PCI có chuẩn bị (14,4%), với OR là 2,57 (p < 0,001). Luận án cũng trình bày chi tiết các đặc điểm của biến chứng như thủng và lóc tách ĐMV, hiện tượng không dòng chảy, tắc mạch đoạn xa, hội chứng tái tưới máu và rối loạn nhịp tim trong thủ thuật, cùng các yếu tố nguy cơ liên quan.