info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình dị tật tai nhỏ theo kỹ thuật Brent

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TẠO HÌNH DỊ TẬT TAI NHỎ THEO KỸ THUẬT BRENT

Ngành:

Chấn thương chỉnh hình và Tạo hình

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ này, mang tên "NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TẠO HÌNH DỊ TẬT TAI NHỎ THEO KỸ THUẬT BRENT," tập trung vào dị tật tai nhỏ bẩm sinh, một tình trạng ảnh hưởng đến 0.8-4.5/10000 trẻ sơ sinh toàn cầu, với tỷ lệ cao hơn ở nam giới và thường gặp ở tai phải, chiếm 90% các trường hợp một bên. Dị tật này gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý và sinh hoạt của trẻ. Nghiên cứu ghi nhận sự phát triển của các kỹ thuật tạo hình tai, từ phương pháp sụn sườn tự thân của Tanzer năm 1959 đến các cải tiến của Brent, Nagata, Firmin, cùng các lựa chọn khác như tai giả và vật liệu nhân tạo.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tạo hình tai bằng sụn sườn tự thân còn hạn chế, đặc biệt đối với trẻ em mắc dị tật đơn thuần. Đề tài này được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1) Mô tả đặc điểm lâm sàng của dị tật tai nhỏ ở trẻ em Việt Nam, và 2) Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình dị tật tai nhỏ theo kỹ thuật Brent. Luận án cũng đưa ra những đóng góp mới về mặt học thuật thông qua việc bổ sung tài liệu tham khảo và ứng dụng thực hành chẩn đoán, đồng thời cải tiến kỹ thuật Brent bằng cách tránh mở lại thành ngực để lấy sụn "chêm" (đặt sụn dự trữ dưới khung sụn để tăng độ nhô), phòng tránh tổn thương khoang màng phổi (để lại màng sụn), và hạn chế biến dạng thành ngực (khâu màng sụn thành bao, đặt sụn thừa vào).

Kết quả lâm sàng cho thấy tỷ lệ nam/nữ mắc dị tật là 1.8/1, với tai phải chiếm 49.5%, tai trái 33.5% và cả hai bên là 17%. Độ dị tật III chiếm tỷ lệ cao nhất (65.9%). 49.5% bệnh nhân có kèm dị tật khác trên khuôn mặt, 36.7% có dị tật khác kèm tai nhỏ, và 58% là dị tật đơn thuần. Trong số các trường hợp có hội chứng, hội chứng cung mang I, II chiếm 42%.

Về kết quả phẫu thuật theo kỹ thuật Brent, tuổi phẫu thuật trung bình là 11.6 ± 2.9 (7–16 tuổi), với 50% ở lứa tuổi tiểu học. Tai phải được tạo hình trong 63.9% trường hợp. Kết quả sớm sau mổ (dưới 1 tháng) được đánh giá rất tốt ở 64.1% ca. Kết quả gần (1-3 tháng) tại nơi lấy sụn đạt 100% tốt trở lên, và nơi tai tạo hình đạt 69.2% rất tốt, 28.2% tốt. Kết quả xa (trên 3 tháng) tại nơi lấy sụn cũng đạt 100% tốt trở lên. Nơi tai tạo hình đạt 69.2% tốt trở lên. Đánh giá chi tiết về giải phẫu tai theo Mohit Sharma cho kết quả 56.4% tốt trở lên, và kích thước, vị trí tai theo Jeong Hwan Choi đạt 61.5% tốt trở lên. Khả năng đeo kính, khẩu trang sau phẫu thuật được 59.0% bệnh nhân hài lòng và 30.8% chấp nhận. Mức độ hài lòng chung của bệnh nhân với tạo hình tai là 51.3% hài lòng và 33.3% chấp nhận.

Tài liệu liên quan