NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT NANG ỐNG MẬT CHỦ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
Ngoại khoa
Luận án "Nghiên cứu chẩn đoán và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt nang ống mật chủ ở người trưởng thành" tập trung vào bệnh lý nang đường mật, đặc biệt là nang ống mật chủ (OMC), một tình trạng giãn bẩm sinh của đường mật. Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật cắt nang OMC và nối ống gan – hỗng tràng kiểu Roux-en-Y. Luận án nhấn mạnh sự phát triển của phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị bệnh lý này, đặc biệt ở người trưởng thành, nơi bệnh lý ít gặp hơn nhưng thường tiến triển nặng nề với các biến chứng như viêm đường mật, tắc mật, sỏi mật hoặc ung thư hóa, khiến việc điều trị bằng PTNS trở nên phức tạp hơn so với trẻ em.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong chẩn đoán nang ống mật chủ ở người trưởng thành, đồng thời đánh giá kết quả của PTNS cắt nang ống mật chủ ở nhóm đối tượng này. Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc làm rõ đặc điểm chẩn đoán và khẳng định tính khả thi, an toàn của phương pháp PTNS cắt nang và nối ống gan chung – hỗng tràng Roux-en-Y ở người trưởng thành, với tỷ lệ thành công cao, ít tai biến và biến chứng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp tiến cứu, mô tả tại Bệnh viện Bình Dân, TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 12 năm 2019, trên 68 bệnh nhân trưởng thành (18-60 tuổi) được chẩn đoán và phẫu thuật nội soi cắt nang OMC. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 38,0 ± 11,9 tuổi, với đa số là nữ giới (91,2%) và bệnh nhân từ nông thôn (66,2%). Về chẩn đoán hình ảnh, siêu âm có độ nhạy 47,8% và độ đặc hiệu 93,3% trong chẩn đoán sỏi mật kèm nang OMC, với mức độ đồng thuận trung bình (Kappa = 0,455). Trong khi đó, chụp cắt lớp vi tính (CTscan) cho thấy độ nhạy 100,0% và độ đặc hiệu 93,3% đối với sỏi mật kèm nang OMC, với mức độ đồng thuận rất tốt (Kappa = 0,922). CTscan cũng cho kết quả tốt trong chẩn đoán bất thường giải phẫu và ứ mật. Hầu hết các nang OMC được chẩn đoán là loại I (63,2% qua siêu âm).