info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu biến đổi hình thái tim, áp lực động mạch phổi và NT-proBNP huyết tương ở bệnh nhân tim bẩm sinh có luồng thông trái phải trước và sau can thiệp

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với một số thông số siêu âm tim và thông tim ở bệnh nhân có luồng thông trái phải

Ngành:

Y học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Tài liệu này trình bày kết quả nghiên cứu về bệnh tim bẩm sinh (TBS) có luồng thông trái-phải, một trong những bệnh lý tim bẩm sinh phổ biến nhất với tỷ lệ mắc khoảng 1% ở trẻ sơ sinh, đồng thời là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Mặc dù có những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật và đầu tư trang thiết bị, việc chẩn đoán và theo dõi điều trị TBS, đặc biệt ở nhóm có luồng thông trái-phải, không phải lúc nào cũng hoàn hảo bằng siêu âm tim và thông tim, nhất là tại các cơ sở y tế tuyến dưới. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá mối liên quan của NT-proBNP huyết tương.

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3/2015 đến tháng 9/2017, bao gồm 190 bệnh nhân TBS có luồng thông trái-phải đã được chẩn đoán xác định (thông liên nhĩ - TLN, thông liên thất - TLT, còn ống động mạch - OĐM) có chỉ định đóng lỗ thông bằng dụng cụ, cùng với 107 người khỏe mạnh làm nhóm chứng. Các biến số nghiên cứu bao gồm đặc điểm tuổi, giới, lâm sàng, điện tim, các thông số siêu âm tim về hình thái và tổn thương tim (như đường kính nhĩ phải, động mạch phổi, các đường kính thất trái, phân suất co rút, phân suất tống máu, kích thước lỗ thông, áp lực động mạch phổi tâm thu) và nồng độ NT-proBNP huyết tương.

Kết quả cho thấy nồng độ NT-proBNP huyết tương của bệnh nhân TBS có luồng thông trái-phải cao hơn đáng kể so với nhóm người khỏe mạnh (p<0,01). Sau can thiệp đóng lỗ thông, các kích thước buồng tim (nhĩ phải, động mạch phổi) và nồng độ NT-proBNP huyết tương giảm đáng kể sau 3 tháng (p<0,01), mặc dù không có sự khác biệt đáng kể sau 24 giờ. Áp lực động mạch phổi tâm thu cũng giảm rõ rệt sau đóng lỗ thông (p<0,01).

Về mối liên quan, NT-proBNP huyết tương tương quan mức độ yếu và vừa với đường kính nhĩ phải và động mạch phổi ở bệnh nhân TLN. Đối với bệnh nhân TLT và OĐM, NT-proBNP tương quan mức độ vừa với các đường kính này cùng các đường kính thất trái. Nồng độ NT-proBNP huyết tương có xu hướng tăng cao ở những bệnh nhân có lỗ thông lớn và có mối tương quan thuận với đường kính lỗ thông của cả ba loại bệnh (TLN: r=0,43; TLT: r=0,31; OĐM: r=0,36, đều p<0,05). Ngoài ra, NT-proBNP huyết tương tăng theo mức tăng áp lực động mạch phổi và có mối tương quan thuận mức độ yếu với tỷ lệ Qp/Qs (r=0,38, p 2 của NT-proBNP được đánh giá là yếu với diện tích dưới đường cong ROC là 0,67.

Mục lục chi tiết:

  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu

      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

      • 3.1.1. Đặc điểm tuổi giới

    • 3.2.2. Đặc điểm kích thước lỗ thông

    • 3.2.2. Đặc điểm áp lực tâm thu động mạch phổi trên siêu âm tim

    • 3.2.3. Đặc điểm Qp/Qs

    • 3.2.4. Đặc điểm NT-proBNP

    • 3.3. Liên quan của NT-proBNP với đặc điểm hình thái tim, áp lực động mạch phổi và Qp/Qs

      • 3.3.1. Liên quan của NT-proBNP huyết tương với đặc điểm hình thái tim

      • 3.3.2. Liên quan của NT-proBNP huyết tương với đường kính lỗ thông

      • 3.3.3. Liên quan giữa NT-proBNP huyết tương với áp lực ĐMP và Qp /Qs

Tài liệu liên quan