info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu hữu cơ để lại sau khai thác đến độ phì của đất và năng suất rừng trồng Keo lá tràm ở các chu kỳ sau tại Phú Bình, tỉnh Bình Dương

Năm2015
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu hữu cơ để lại sau khai thác đến độ phì của đất và năng suất rừng trồng Keo lá tràm ở các chu kỳ sau tại Phú Bình, tỉnh Bình Dương

Ngành:

Lâm sinh

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án “Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu hữu cơ để lại sau khai thác đến độ phì của đất và năng suất rừng trồng Keo lá tràm ở các chu kỳ sau tại Phú Bình, tỉnh Bình Dương” đã đưa ra những kết luận quan trọng về vai trò của việc để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) đối với đất và rừng trồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc duy trì VLHCSKT làm tăng đáng kể độ phì của đất. Cụ thể, dung trọng đất được cải thiện, thành phần cơ giới của đất ít bị xáo trộn sau 11 năm và có tiềm năng cải thiện kết cấu đất qua nhiều chu kỳ kinh doanh. Chỉ số pH của đất ít thay đổi, khẳng định việc trồng Keo lá tràm không gây chua hóa đất ngay cả khi toàn bộ VLHCSKT bị loại bỏ. Đặc biệt, việc để lại VLHCSKT đã làm tăng lượng tích lũy Carbon và các chất dinh dưỡng thiết yếu như N, P, K, Ca, Mg trong tầng đất mặt (0 – 10cm) từ 7,04% đến 13,64% so với trường hợp lấy đi VLHCSKT. Ngược lại, khi lấy đi VLHCSKT, đất thiếu hụt nghiêm trọng lân dễ tiêu và các cation trao đổi như Canxi, Magiê. Ngoài ra, VLHCSKT còn cải thiện rõ rệt đặc điểm sinh học của đất thông qua hệ động vật và vi sinh vật, đặc biệt trong mùa mưa.

Về năng suất và sinh khối rừng, luận án chứng minh rằng việc để lại VLHCSKT góp phần tăng trữ lượng rừng và sinh khối. Ở chu kỳ 3, sau 5 năm, trữ lượng rừng khi để lại VLHCSKT có bón bổ sung lân (Fh) đạt 185,6 m3/ha, trong khi chỉ để lại VLHCSKT (Fm) là 169,3 m3/ha, cao hơn đáng kể so với việc lấy đi VLHCSKT (Fl) chỉ đạt 155,4 m3/ha. Điều này tương ứng với mức tăng MAI từ 3 – 6 m3/ha/năm. Hơn nữa, sự kết hợp giữa việc để lại VLHCSKT và nguồn giống được cải thiện đã giúp tăng trữ lượng rừng ở chu kỳ 3 lên 11% so với chu kỳ 2 và 41% so với chu kỳ 1, mặc dù tuổi rừng thấp hơn. Sinh khối rừng ở chu kỳ 3, công thức Fh đạt 142,8 tấn/ha, vượt 10,2% so với Fm và 17,6% so với đối chứng (Fl). Tổng thể, sinh khối khô ở chu kỳ 3 tăng 10% so với chu kỳ 2 và 179% so với chu kỳ 1.

Nghiên cứu cũng làm rõ dinh dưỡng rừng trồng ở chu kỳ 3 trên đất xám vàng tại Phú Bình sau 11 năm. Kết quả cho thấy, khi để lại VLHCSKT cùng với lượng vật rụng hàng năm, đất được trả lại khoảng 55,05 tấn chất khô, tương ứng với lượng dinh dưỡng gấp 3 – 6 lần so với hàm lượng dinh dưỡng trong tầng đất 0 – 20cm. Nguồn dinh dưỡng tự nhiên này đủ khả năng bù đắp lượng dinh dưỡng mà rừng Keo lá tràm sử dụng, loại bỏ sự cần thiết phải bón bổ sung. Ngược lại, nếu VLHCSKT và vật rụng bị loại bỏ, cây trồng sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng.

Tài liệu liên quan