LÝ THUYẾT KALUZA-KLEIN GIÁN ĐOẠN VÀ CÁC KÊNH PHÂN RÃ TỐI CỦA NEUTRON
Vật lý lý thuyết và Vật lý Toán
Luận án này nghiên cứu về "Lý thuyết Kaluza-Klein gián đoạn và các kênh phân rã tối của neutron" nhằm mục tiêu thống nhất các tương tác cơ bản và giải thích các vấn đề thực nghiệm hiện nay trong vật lý hạt. Xuất phát từ những hạn chế của Mô hình Chuẩn (SM) trong việc mô tả vật chất tối và thống nhất các tương tác, luận án tập trung vào việc mở rộng SM bằng lý thuyết Kaluza-Klein với chiều phụ gián đoạn (DKKT).
DKKT là một lý thuyết hấp dẫn mở rộng trong không-thời gian Connes-Lott, khắc phục nhược điểm của lý thuyết Kaluza-Klein truyền thống bằng cách cho phép các trường đối tác Kaluza-Klein hữu hạn. Mục đích chính của luận án là mở rộng DKKT để bao gồm các trường gauge phi Abel, nhằm mô tả tương tác mạnh và tương tác yếu, vốn chưa được tích hợp đầy đủ trong DKKT ban đầu. Luận án xem xét các trường hợp các trường gauge phi Abel trên hai lá tương ứng với hạt tay phải và tay trái.
Một mục tiêu quan trọng khác là giải quyết bài toán câu đố về thời gian sống của neutron bằng cách xem xét các kênh phân rã neutron trong mô hình hạt sơ cấp mới của DKKT. Luận án xây dựng lý thuyết cho vật chất tối và vector boson X17 (phát hiện tại ATOMKI) để giải thích các kênh phân rã tối mới của neutron.
Các phương pháp nghiên cứu bao gồm việc áp dụng hình thức luận Cartan và hình học không giao hoán của DKKT, cùng với lý thuyết trường lượng tử và giản đồ Feynman để tính toán bề rộng phân rã. Luận án đã thành công trong việc kết hợp các trường gauge phi Abel vào vierbein, chứng minh chúng xuất hiện như thành phần của trường hấp dẫn trong tenxơ độ cong Ricci, tạo cơ sở toán học cho việc thống nhất các tương tác trong một lý thuyết hình học. Tác dụng Hilbert-Einstein được chứng minh là bất biến chuẩn khi các trường gauge thỏa mãn các điều kiện cụ thể, phù hợp với tính chất của tương tác yếu và mạnh.
Luận án đề xuất các kênh phân rã mới của neutron dựa trên các bạn đồng hành Kaluza-Klein và giải thích bài toán thời gian sống của neutron bằng cách sử dụng dữ liệu từ các thí nghiệm "beam" và "bottle", thiết lập mối liên hệ giữa các tham số của mô hình. Kết quả cho thấy kênh rã ra hạt vô hướng H có vai trò chính so với các kênh rã qua X17 trong việc giải quyết câu đố này.