KẾT QUẢ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ ĐIỀU TRỊ TỨ CHỨNG FALLOT Ở TRẺ DƯỚI 1 TUỔI
Ngoại khoa/Ngoại lồng ngực
Luận án này tập trung vào đánh giá kết quả phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot (TOF) ở trẻ dưới 1 tuổi, một dị tật tim bẩm sinh có tím thường gặp nhất, chiếm khoảng 5-8% các bệnh tim bẩm sinh. Bệnh được đặc trưng bởi bốn tổn thương chính: hẹp phổi, thông liên thất lớn, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất và phì đại thất phải. Nếu không được điều trị kịp thời, tỷ lệ tử vong ở trẻ mắc TOF rất cao, nhưng phẫu thuật sửa toàn bộ sớm có thể giúp người bệnh có trái tim và cuộc sống gần như bình thường. Mục tiêu của nghiên cứu là nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm, trung hạn của phẫu thuật sửa toàn bộ TOF ở nhóm trẻ này tại Bệnh viện Tim Hà Nội và Bệnh viện Nhi Thanh Hóa.
Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam thực hiện trên nhóm trẻ dưới 1 tuổi với cỡ mẫu lớn và thời gian theo dõi dài (3-5 năm), cung cấp dữ liệu khách quan và đa dạng. Luận án cũng góp phần vào việc chuyển giao kỹ thuật và ứng dụng tại bệnh viện tuyến tỉnh, nhằm giảm tải cho bệnh viện tuyến trung ương và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao cho người dân địa phương. Nghiên cứu được tiến hành trên 115 bệnh nhân từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 11 năm 2019.
Kết quả lâm sàng cho thấy 84,3% bệnh nhi có tím, 40% xuất hiện cơn tím (trong đó 7,8% có tiền sử ngất), và hầu hết có suy tim độ I và II theo phân loại Ross. Về cận lâm sàng, siêu âm tim phát hiện thông liên thất lớn (chỉ số TLT/ĐMC ≥ 0,5 chiếm 97,4% và 98,3% ở vị trí quanh màng), với chênh áp thất phải – động mạch phổi trung bình 83,7 ± 20,8 mmHg. Tỷ lệ có giá trị Z vòng van ĐMP dưới -2 là 50,4% và thân ĐMP là 51,3%.
Về phẫu thuật, tất cả các trường hợp đều được tiếp cận qua đường nhĩ phải và động mạch phổi, với 48,7% bệnh nhân có mở rộng qua vòng van động mạch phổi. Thời gian cặp động mạch chủ trung bình là 73,4 ± 22,4 phút và thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình là 99,3 ± 26,9 phút. Sau phẫu thuật, chênh áp tối đa thất phải – động mạch phổi trung bình là 13,7 ± 8,1 mmHg, không có trường hợp nào vượt quá 50 mmHg.
Kết quả sau mổ ghi nhận thời gian thở máy trung bình 48,4 ± 69,1 giờ. Các biến chứng sớm thường gặp là viêm phổi (34,8%) và hội chứng cung lượng tim thấp (26,1%). Tỷ lệ tử vong sớm sau mổ rất thấp, chỉ 0,9%. Theo dõi trung hạn cho thấy tỷ lệ hở van động mạch phổi nặng tăng lên 22,5% sau 3 năm, và 1,7% bệnh nhân phải mổ lại do hẹp đường ra thất phải tồn lưu tái phát. Chênh áp tối đa qua van động mạch phổi và chỉ số giãn thất phải có xu hướng giảm dần theo thời gian.
Kết luận của luận án khẳng định phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot ở trẻ dưới 1 tuổi có tỷ lệ tử vong thấp, biến chứng có thể chấp nhận được và kết quả theo dõi trung hạn khả quan. Điều này chứng tỏ tính khả thi và an toàn của phương pháp này, khuyến nghị ứng dụng phẫu thuật sửa toàn bộ sớm cho bệnh nhân tứ chứng Fallot.