KẾT QUẢ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN CỦA PHẪU THUẬT CHUYỂN GỐC ĐẠI ĐỘNG MẠCH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhi khoa
Luận án này nghiên cứu kết quả ngắn hạn và trung hạn của phẫu thuật chuyển gốc đại động mạch (CGĐĐM) tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2009-2015, trên 109 bệnh nhân. Hoán vị đại động mạch (HVĐĐM) là một tật tim bẩm sinh nguy hiểm, và CGĐĐM là kỹ thuật điều trị tiên tiến. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tỷ lệ tử vong sớm và các yếu tố liên quan, các biến chứng trong hồi sức, cũng như kết quả trung hạn về tử vong muộn, biến chứng tim mạch và sự phát triển thần kinh, vận động.
Kết quả ngắn hạn cho thấy tỷ lệ tử vong sớm là 14,7%. Các yếu tố liên quan đến tử vong sớm bao gồm rối loạn chức năng thất trái, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) kéo dài và chảy máu nặng. Có sự khác biệt trong điều trị Prostaglandin E ở nhóm bệnh nhân có vách liên thất nguyên vẹn (VLTNV) giữa nhóm sống và tử vong. Các biến chứng thường gặp trong hồi sức bao gồm nhiễm trùng (78,5%), cao áp phổi (40,9%), và rối loạn chức năng thất trái (34,4%).
Về kết quả trung hạn, 4 bệnh nhân (3,7%) tử vong muộn, tất cả đều liên quan đến bất thường mạch vành. Với thời gian theo dõi trung vị 56,5 tháng trên 78 bệnh nhân, các biến chứng của động mạch chủ mới ghi nhận hở van trung bình 19%, dãn vòng van nặng 11,5%, dãn gốc nặng 20,5%. Z-score vòng van và gốc động mạch chủ được giữ ổn định. Thể bệnh Taussig Bing có liên quan đến dãn gốc động mạch chủ nặng. Tỷ lệ hẹp trên van động mạch phổi nặng cần tái can thiệp là 3,9%. Nghiên cứu cũng bước đầu tầm soát sự phát triển thần kinh vận động của trẻ giai đoạn 2-5 tuổi, ghi nhận khó khăn nhiều nhất ở kỹ năng giải quyết vấn đề.
Luận án kiến nghị cần tăng cường tầm soát tim bẩm sinh trước và sau sinh, cải thiện kỹ năng phẫu thuật và hồi sức để giảm tỷ lệ tử vong sớm, xây dựng hệ thống quản lý bệnh án điện tử và thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn về biến chứng mạch vành và phát triển tâm lý thần kinh.