ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MILES NỘI SOI VỚI CẮT TẦNG SINH MÔN Ở TƯ THẾ NẰM SẤP TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG THẤP
Ngoại tiêu hóa (Mã số: 62.72.01.25)
Luận án "Đánh giá kết quả phẫu thuật Miles nội soi với cắt tầng sinh môn ở tư thế nằm sấp trong điều trị ung thư trực tràng thấp" của Nguyễn Văn Tuấn, được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ vào năm 2023, thuộc ngành Ngoại tiêu hóa. Công trình này dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Văn Năng.
Nghiên cứu được đặt ra trong bối cảnh ung thư trực tràng là một loại ung thư thường gặp, với phương pháp điều trị đa mô thức bao gồm phẫu trị kết hợp hóa xạ trị. Phẫu thuật Miles cổ điển (1908) từng được xem là tiêu chuẩn vàng. Từ năm 2007, kỹ thuật phẫu thuật Miles nội soi với cắt tầng sinh môn ngoài cơ nâng ở tư thế nằm sấp đã được áp dụng và cho thấy hiệu quả ung thư học cao, giảm tỷ lệ vỡ u trong lúc mổ, tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính (DCVQ+) và tái phát tại chỗ, đồng thời tăng tỷ lệ sống 5 năm. Tại Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá kết quả của phương pháp này.
Mục tiêu chính của luận án là mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mô bệnh học trên bệnh nhân ung thư trực tràng thấp được phẫu thuật Miles nội soi với cắt tầng sinh môn ở tư thế nằm sấp, và đánh giá kết quả phẫu thuật cũng như kết quả ung thư học của phương pháp này tại Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 05 năm 2022. Nghiên cứu tiến cứu mô tả này được thực hiện trên 45 trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 62,2 tuổi, với dấu hiệu tiêu máu là lý do nhập viện thường gặp nhất. Khối u có khoảng cách trung bình từ rìa hậu môn đến bờ dưới là 1,6 cm. Nội soi đại tràng phát hiện khối u ở 100% trường hợp, chủ yếu dạng sùi. Kết quả CT-scan bụng chậu có cản quang cho thấy 53,3% trường hợp có di căn hạch. Tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính (DCVQ+) là 28,9%. Thời gian mổ trung bình là 259,4 phút. Biến chứng chung sau mổ chiếm 17,8%, chủ yếu là nhiễm trùng vết mổ tầng sinh môn. Các biến chứng muộn bao gồm thoát vị cạnh hậu môn nhân tạo (4,4%) và xoang dịch vùng tầng sinh môn (4,4%).
Về kết quả ung thư học, sau thời gian theo dõi trung bình 21,8 tháng, tỷ lệ tái phát chung là 13,3%. Tỷ lệ sống còn không bệnh tại 1, 2 và 3 năm lần lượt là 97,2%, 85,5% và 76%. Tỷ lệ sống còn toàn bộ tại 1, 2 và 3 năm lần lượt là 100%, 95,2% và 85,7%. Luận án cũng ghi nhận các trường hợp DCVQ (+) có tỷ lệ tái phát tại chỗ cao hơn DCVQ (-) và giai đoạn u T3 có tỷ lệ DCVQ (+) cao hơn giai đoạn u T2. Từ đó, luận án khuyến nghị tiếp tục thực hiện các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn, đồng thời nên chụp cộng hưởng từ bụng-chậu để đánh giá chính xác tình trạng xâm lấn và giai đoạn ung thư trực tràng trước mổ.