Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN TRÊN TRẺ CÓ QUÁ PHÁT AMYDAL
Nhi khoa
Luận án "Đánh giá hiệu quả điều trị hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn trên trẻ có quá phát Amydal" của Phí Thị Quỳnh Anh, hoàn thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2020, chuyên ngành Nhi khoa, mã số 62720135, tập trung vào việc đánh giá hiệu quả các phương pháp điều trị hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSAS) ở trẻ em có Amydal quá phát. OSAS ở trẻ em, đặc biệt từ 2-8 tuổi, do quá phát Amydal và hạnh nhân hầu (VA), gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như suy giảm nhận thức, rối loạn hành vi và nguy cơ bệnh tim mạch, thần kinh.
Nghiên cứu được thực hiện trên 114 bệnh nhi từ 2-12 tuổi, tuổi trung bình 5,5 ± 2,1, với tỉ lệ nam/nữ là 3,1/1. Đa số trẻ bị thấp cân (72,8%). Các triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm ngủ ngáy, thở miệng, gắng sức thở và cơn ngừng thở ban đêm. Chỉ số ngừng thở giảm thở (AHI) trung bình là 12,6 ± 11,2 cơn/giờ, với mối tương quan thuận giữa AHI và mức độ quá phát Amydal/VA, tần suất, thời gian, cường độ ngáy. Độ bão hòa oxy máu thấp nhất trung bình là 75,7 ± 13,7%, có mối tương quan nghịch với AHI.
Luận án đánh giá hai phương pháp điều trị chính. Đối với điều trị bằng thuốc kháng Leukotrienes trên nhóm OSAS mức độ nhẹ và vừa, hiệu quả điều trị đạt 47,6% (theo tiêu chuẩn AHI < 1 cơn/giờ sau điều trị), với AHI trung bình giảm từ 3,9 xuống 0,9 cơn/giờ và độ bão hòa oxy thấp nhất tăng từ 78,8% lên 83,7%. Hầu hết các triệu chứng lâm sàng đều cải thiện.
Đối với phẫu thuật cắt Amydal và nạo VA, phương pháp này được chứng minh là hiệu quả cho trẻ có Amydal/VA quá phát. Hiệu quả điều trị đạt 74,5% (theo tiêu chuẩn AHI < 5 cơn/giờ sau điều trị), với AHI trung bình giảm đáng kể từ 23,4 xuống 3,5 cơn/giờ và độ bão hòa oxy thấp nhất tăng từ 71,9% lên 81,4%. Tất cả 4 nhóm triệu chứng lâm sàng (ban ngày, ban đêm, tăng động, giảm chú ý) đều được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, phẫu thuật cũng có tỉ lệ biến chứng chảy máu sau mổ là 9,8%.
Nghiên cứu đề xuất cần phát hiện và điều trị sớm OSAS ở trẻ em, đưa ra hướng dẫn điều trị, và theo dõi lâu dài bệnh nhân nặng sau phẫu thuật để phát hiện OSAS tồn dư.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên