ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐÁ PHUN TRÀO BASALT ĐỆ TỨ MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
Kỹ thuật địa chất
Luận án này giải quyết yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu chi tiết, có hệ thống đối với các thành tạo basalt Đệ tứ tại miền Đông Nam Bộ (ĐNB), khu vực mà các nghiên cứu trước đây còn ở mức độ rộng hoặc tập trung cục bộ, chưa đi sâu vào đặc điểm địa chất, thạch học, thạch địa hóa, nguồn gốc, tuổi thành tạo và chất lượng sử dụng. Mục tiêu chính của luận án là làm sáng tỏ các đặc điểm này, từ đó đề xuất định hướng sử dụng tài nguyên hợp lý và bền vững.
Nghiên cứu được thực hiện trên các thành tạo basalt Phước Tân, Xuân Lộc và SokLu, trải rộng trên diện tích 23.564 km² thuộc các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu đa dạng bao gồm thu thập tài liệu, phân tích ảnh viễn thám, khảo sát thực địa, và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (thạch học, thạch địa hóa, địa hóa đồng vị, tính chất cơ lý, xác định hoạt độ phóng xạ tự nhiên, xử lý thống kê, phân tích SWOT và ứng dụng phần mềm chuyên dụng).
Kết quả cho thấy basalt Đệ tứ ĐNB chủ yếu là basalt kiềm (Xuân Lộc, SokLu) và basalt á kiềm (Phước Tân), hình thành trong hai giai đoạn Pleistocen sớm và Pleistocen giữa (tuổi 2,58-0,33 Ma). Chúng có nguồn gốc manti, liên quan đến bối cảnh nội mảng (WPB) kiểu basalt đảo đại dương (OIB), do quá trình phân dị kết tinh của magma basalt nguồn gốc manti. Các đặc điểm chất lượng cho thấy basalt Đệ tứ ĐNB đáp ứng yêu cầu cho nhiều lĩnh vực sử dụng, nổi bật là đá xây dựng (ĐXD), phụ gia hoạt tính puzolan và nguyên liệu sản xuất sợi basalt (đặc biệt là basalt á kiềm Phước Tân). Luận án đã phân chia khu vực thành 6 đơn vị phân vùng sử dụng hợp lý, nhằm tiết kiệm tài nguyên, bảo tồn di sản địa chất, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các kiến nghị được đưa ra bao gồm việc áp dụng hệ phương pháp nghiên cứu hiện đại cho các khu vực tương tự và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho nguyên liệu sản xuất sợi basalt.