THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC, THỰC PHẨM, SỨC KHỎE DÂN CƯ Ở MỘT KHU VỰC VEN BIỂN HUYỆN THỦY NGUYÊN HẢI PHÒNG VÀ THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Y tế công cộng
Luận án "Thực trạng ô nhiễm một số kim loại nặng trong môi trường nước, thực phẩm, sức khỏe dân cư ở một khu vực ven biển huyện Thủy Nguyên Hải Phòng và thử nghiệm giải pháp can thiệp" được thực hiện nhằm đánh giá tình hình ô nhiễm kim loại nặng (KLN) và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe cộng đồng, đồng thời thử nghiệm giải pháp can thiệp tại khu vực ven biển Thủy Nguyên, Hải Phòng từ năm 2017-2019.
Nghiên cứu được tiến hành với ba mục tiêu chính. Thứ nhất, mô tả thực trạng ô nhiễm KLN trong môi trường nước và thực phẩm. Kết quả cho thấy hàm lượng KLN trong các mẫu nước mặt, nước giếng, rau và thủy sản thường xuyên vượt giới hạn cho phép. Cụ thể, 100% mẫu nước mặt có hàm lượng As và Pb, cùng 98,15% mẫu có Cd và Cr vượt Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 08:2015). Đối với nước giếng, tỷ lệ mẫu vượt GHCP giảm dần theo thứ tự Pb (94,59%) > Cr (84,68%) > As (83,33%) > Cd (74,77%). Trong rau trồng, tỷ lệ mẫu vượt GHCP cao nhất ở Pb (91,11%), tiếp đến là Cr (79,26%) và Cd (70,37%). 100% mẫu tôm, ốc và cá xét nghiệm có hàm lượng Pb và Cd vượt GHCP.
Thứ hai, luận án mô tả cơ cấu bệnh tật và yếu tố nguy cơ do thấm nhiễm KLN ở người dân địa phương. Tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp như Răng - Hàm - Mặt (84,16%), Truyền nhiễm (59,70%), Tiêu hóa (48,22%) và Tuần hoàn (41,49%) là khá cao. Các triệu chứng nhiễm độc liên quan đến KLN bao gồm suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, rụng tóc, rối loạn cảm giác, rối loạn vận mạch, dày sừng và rối loạn sắc tố da. Tỷ lệ thâm nhiễm KLN ở đối tượng nghiên cứu là 41,10%, và các dấu hiệu nhiễm độc ở nhóm thâm nhiễm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không thâm nhiễm. Nguy cơ ung thư ước tính do tiêu thụ nước nhiễm KLN có thể tăng lên đáng kể sau 5-10 năm và trong cả cuộc đời, với thứ tự nguy cơ từ As > Cr > Cd > Pb. Nguy cơ ung thư từ thực phẩm nhiễm KLN cũng tuân theo thứ tự As > Cr > Pb > Cd, nhưng đều nằm trong ngưỡng chấp nhận được.
Thứ ba, nghiên cứu thử nghiệm và đánh giá giải pháp can thiệp bằng than hoạt tính cây thầu dầu để loại bỏ KLN trong nước. Kết quả trong phòng thí nghiệm và tại thực địa cho thấy than hoạt tính cây thầu dầu có hiệu quả cao trong việc loại bỏ As, Pb, Cd và Cr khỏi nước. Hiệu quả lọc tại thực địa đạt từ 95% đến 99%, với Cr đạt cao nhất. Giải pháp này được đánh giá là dễ xây dựng, sử dụng, có nguyên vật liệu phổ biến, giá thành rẻ và đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân nông thôn có thu nhập bình thường.
Đây là một trong những công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện về thực trạng ô nhiễm KLN, tác động sức khỏe và giải pháp can thiệp tại một khu vực ven biển đặc thù, cung cấp dữ liệu quan trọng và một mô hình lọc nước hiệu quả.