ĐÁNH GIÁ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH
NHI KHOA
Luận án "Đánh giá tiên lượng tử vong ở trẻ sơ sinh tại khoa Hồi sức sơ sinh" của Nguyễn Thị Kim Nhi tập trung vào vấn đề tử vong sơ sinh, một thách thức y tế nghiêm trọng ở Việt Nam và các nước đang phát triển. Bệnh lý ở trẻ sơ sinh phức tạp và khó lường, đòi hỏi việc đánh giá chính xác mức độ nặng và nguy cơ tử vong để đưa ra quyết định điều trị hiệu quả. Mặc dù các thang điểm tiên lượng quốc tế như SNAP-II, SNAPPE-II và CRIB-II đã được phát triển, việc áp dụng chúng tại Việt Nam còn hạn chế và cần được hiệu chỉnh cho phù hợp với dân số và điều kiện y tế địa phương.
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu này được thực hiện từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2018 tại Khoa Hồi sức sơ sinh (HSSS) Bệnh viện Nhi Đồng 2, thu thập dữ liệu từ 552 trẻ sơ sinh. Mục tiêu chính là xác định các yếu tố liên quan đến tử vong sơ sinh, xác định điểm cắt tiên lượng của các thang điểm SNAP-II, SNAPPE-II, CRIB-II, và xây dựng mô hình tiên lượng tử vong cụ thể cho trẻ sơ sinh tại HSSS, phân nhóm theo cân nặng lúc sinh (CNLS > 1500gr và CNLS ≤ 1500gr).
Kết quả cho thấy tỷ lệ tử vong chung là 23,6%, với tỷ lệ cao hơn đáng kể ở nhóm trẻ có CNLS ≤ 1500gr (38,5%) so với nhóm CNLS > 1500gr (15,4%). Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm điểm số Apgar 5 phút < 7, phù cứng bì lúc nhập HSSS và sốc trong 12 giờ đầu nhập HSSS. Đối với trẻ CNLS > 1500gr, thang điểm SNAP-II tại thời điểm 24 giờ nhập viện (T1) với điểm cắt ≥ 15 có giá trị tiên đoán tốt nhất (ROC AUC 0,879). Đối với trẻ CNLS ≤ 1500gr, thang điểm CRIB-II với điểm cắt ≥ 8,5 (ROC AUC 0,753) và SNAP-II (T1) với điểm cắt ≥ 6 (ROC AUC 0,733) mang lại giá trị tiên lượng cao.
Luận án đã xây dựng được các mô hình tiên lượng tử vong tối ưu cho từng nhóm cân nặng. Mô hình cho trẻ CNLS > 1500gr đạt khả năng tiên đoán đúng 91,6% dựa trên sốc trong 12 giờ, SNAPPE-II ≥ 25,5 và SNAP-II (T1) ≥ 15. Mô hình cho trẻ CNLS ≤ 1500gr đạt 78,4% dựa trên phù cứng bì lúc nhập HSSS, CRIB-II ≥ 8,5 và SNAP-II (T1) ≥ 6. Các mô hình này đã được nội kiểm và ngoại kiểm, cho thấy độ chính xác cao và phù hợp để ứng dụng trong thực hành lâm sàng, góp phần cải thiện tiên lượng và quản lý điều trị cho trẻ sơ sinh tại Việt Nam.