info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền vững ở thành phố Đà Nẵng

Năm2016
Lĩnh vựcKinh tế - Quản lý
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Phát triển các Khu Công Nghiệp theo hướng bền vững ở Thành phố Đà Nẵng

Ngành:

Kinh tế phát triển

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Cao Luận tập trung nghiên cứu sự phát triển các khu công nghiệp (KCN) theo hướng bền vững tại Thành phố Đà Nẵng. Đề tài được đánh giá là cấp thiết do những vấn đề hết sức cấp bách, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững các KCN trong tương lai của thành phố, đòi hỏi phải được nghiên cứu và xây dựng các chính sách, giải pháp đảm bảo cho KCN phát triển bền vững. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng phát triển này.

Các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến phát triển bền vững ngành công nghiệp, như của Đỗ Hữu Hào (2006) đánh giá thực trạng giai đoạn 2000-2005, và mô hình sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp tiêu biểu. Tuy nhiên, luận án chỉ ra rằng các nghiên cứu này chưa đưa ra quan niệm về phát triển KCN theo hướng bền vững dựa trên tác động của hiệu quả kinh tế lan tỏa đến các vấn đề xã hội và môi trường cả bên trong và bên ngoài KCN. Đặc biệt, tại Đà Nẵng, chưa có công trình nghiên cứu độc lập, bài bản và có hệ thống nào được công bố về phát triển KCN theo hướng bền vững, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Luận án mô tả KCN là khu vực được quy hoạch phát triển công nghiệp mang tính liên vùng, tập trung trong một không gian nhất định, với cơ sở hạ tầng kỹ thuật (KCHT) được đảm bảo bởi công ty phát triển hạ tầng KCN và công ty dịch vụ KCN. Điều kiện tự nhiên, môi trường phát triển của các KCN nhìn chung thuận lợi, và KCN được hình thành trong quá trình công nghiệp hóa để tạo ra điều kiện thuận lợi về cả cơ chế chính sách lẫn KCHT nhằm khuyến khích các nhà đầu tư tập trung. Phát triển bền vững được xem xét ở hai khía cạnh: bền vững bên trong KCN (bao gồm vị trí, quy mô đất đai, tỷ lệ lấp đầy, doanh thu, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các doanh nghiệp, liên kết sản xuất kinh doanh) và bền vững lan tỏa từ KCN đến địa phương và vùng (thể hiện qua đóng góp của KCN vào ngành công nghiệp, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương).

Thực trạng tại Đà Nẵng cho thấy thành phố có 6 KCN đang hoạt động với tổng diện tích 1.167,1 ha, trong đó có 3 KCN thành lập trước năm 2000 (KCN Hòa Khánh, KCN Đà Nẵng, KCN Liên Chiểu) và 3 KCN thành lập trong giai đoạn 2001 – 2005. Các vấn đề môi trường KCN được đề cập bao gồm thực trạng khuyến khích xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải tập trung, áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện môi trường, công tác quản lý môi trường và xử lý các hoạt động gây ô nhiễm. Các chỉ tiêu đánh giá về xử lý chất thải rắn và ô nhiễm không khí đều tập trung vào tỷ lệ doanh nghiệp thay thế nguyên vật liệu đầu vào tạo ra chất thải không tái chế được bằng loại có thể tái chế. Những hạn chế chính được xác định là do các doanh nghiệp chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật bảo vệ môi trường; quá trình hoạt động của nhà máy xử lý nước thải thiếu ổn định và mới đạt chuẩn B theo QCVN; các công trình xử lý chất thải chưa được đầu tư đồng bộ; và vấn đề ô nhiễm không khí, tiếng ồn từ các KCN còn ở mức cao. Nguyên nhân của những hạn chế này một phần do văn bản hệ thống luật pháp trong quá trình áp dụng vào thực tế vẫn gây nên tình trạng chồng chéo.

Luận án đề xuất các mục tiêu phát triển đến năm 2020: lấp đầy 100% diện tích các KCN còn lại; các doanh nghiệp trong KCN đóng góp 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Đà Nẵng; hằng năm các KCN tạo ra 2 vạn chỗ làm việc; tất cả các KCN ở Đà Nẵng đều phải có cơ sở xử lý chất thải (rắn, lỏng, khí); và 100% các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp, KCN, cụm công nghiệp được bố trí phù hợp với quy hoạch của thành phố. Các giải pháp được đưa ra nhằm tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm việc xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài hợp lý; có các biện pháp hỗ trợ cho xây dựng liên kết và kích thích quá trình liên kết ngày càng sâu sắc, gắn bó và hiệu quả; và xây dựng các giải pháp hỗ trợ.

Tài liệu liên quan