info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và kết quả thông tiểu ngắt quãng sạch điều trị bàng quang thần kinh ở bệnh nhân sau phẫu thuật tủy – màng tủy

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ KẾT QUẢ THÔNG TIỂU NGẮT QUÃNG SẠCH ĐIỀU TRỊ BÀNG QUANG THẦN KINH Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT TỦY - MÀNG TỦY

Ngành:

Ngoại Tiết niệu

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ KẾT QUẢ THÔNG TIỂU NGẮT QUÃNG SẠCH ĐIỀU TRỊ BÀNG QUANG THẦN KINH Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT TỦY - MÀNG TỦY" thuộc ngành Ngoại Tiết niệu, tập trung vào việc đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả của thông tiểu ngắt quãng sạch (CIC) ở bệnh nhân bàng quang thần kinh (BQTK) do dị tật nứt đốt sống bẩm sinh sau phẫu thuật tủy - màng tủy tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

BQTK do dị tật nứt đốt sống bẩm sinh là một tình trạng phổ biến ở trẻ em, gây rối loạn chức năng tiết niệu dưới và các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái diễn, suy thận, và nguy cơ tử vong. Mặc dù CIC đã được ứng dụng từ năm 1972 và là lựa chọn điều trị đầu tiên, việc báo cáo kết quả tại Việt Nam còn hạn chế.

Nghiên cứu này đã đưa ra những đóng góp khoa học quan trọng, là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam căn cứ vào kết quả đo áp lực bàng quang để chỉ định CIC, CIC kết hợp thuốc kháng giao cảm và phẫu thuật. Đồng thời, luận án cũng xác định rõ chỉ định phẫu thuật tăng dung tích bàng quang khi có giảm độ co giãn bàng quang, áp lực bàng quang ≥ 30 cmH2O, thể tích bàng quang so với tuổi ≤ 70%, giãn đài bể thận - niệu quản, trào ngược bàng quang - niệu quản, tổn thương sẹo thận trên xạ hình và khi điều trị nội khoa thất bại. Về giá trị thực tiễn, đề tài này góp phần giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái diễn, rỉ tiểu, bảo tồn chức năng thận, giảm can thiệp ngoại khoa, giúp bệnh nhân tái hòa nhập xã hội và độc lập khi trưởng thành.

Kết quả nghiên cứu trên 62 bệnh nhân cho thấy 61,3% có nhiễm khuẩn đường tiết niệu, trong đó nhiễm khuẩn có sốt là 71,1% và vi khuẩn thường gặp là E.coli (61,0%). 74,2% bệnh nhân bị táo bón và 87,1% có chức năng vận động bình thường. Tỷ lệ giãn bể thận - niệu quản là 32,2%, trào ngược bàng quang - niệu quản là 46,8%. 41,9% bệnh nhân giảm độ co giãn bàng quang, 22,6% có áp lực bàng quang cao (≥ 30 cmH2O) và 12,9% có thể tích bàng quang nhỏ so với tuổi. Các yếu tố này liên quan đáng kể đến tổn thương sẹo thận (29,0%).

Sau CIC, 51,6% bệnh nhân hết rỉ tiểu. CIC cải thiện hoặc duy trì thể tích và áp lực bàng quang bình thường ở các trường hợp có thông số ban đầu thuận lợi, nhưng không hiệu quả ở các trường hợp nặng hơn. Đối với 27,4% bệnh nhân không đáp ứng với CIC, phẫu thuật tăng dung tích bàng quang bằng quai hồi tràng mang lại hiệu quả cao, với 83,3% bệnh nhân hết rỉ tiểu và giãn bể thận - niệu quản, 92,3% hết trào ngược bàng quang - niệu quản, cùng với sự cải thiện đáng kể về thể tích và áp lực bàng quang. Luận án kiến nghị cần hướng dẫn thông tiểu ngắt quãng sớm, đo áp lực bàng quang sớm để phát hiện nguy cơ và can thiệp kịp thời, đồng thời chỉ định phẫu thuật tăng dung tích bàng quang khi có tổn thương hệ tiết niệu trên không đáp ứng với điều trị nội khoa.

Tài liệu liên quan