info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Đánh giá kết quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn muộn bằng phác đồ TCX

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UTDD GIAI ĐOẠN MUỘN BẰNG PHÁC ĐỒ TCX

Ngành:

Ung thư

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung vào việc đánh giá kết quả điều trị và các tác dụng không mong muốn của phác đồ TCX (Paclitaxel, Carboplatin, Capecitabine) trên bệnh nhân ung thư dạ dày (UTDD) giai đoạn muộn. UTDD là một bệnh lý ác tính phổ biến, thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn tại Việt Nam và trên thế giới, khi hóa trị đóng vai trò chủ đạo để cải thiện triệu chứng và kéo dài thời gian sống. Mặc dù phác đồ TCX đã được nghiên cứu và cho thấy hiệu quả khả quan trên thế giới, nhưng tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào đánh giá toàn diện phác đồ này cho UTDD giai đoạn muộn.

Nghiên cứu được tiến hành trên 71 bệnh nhân UTDD giai đoạn muộn, không còn khả năng phẫu thuật triệt căn, điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội từ tháng 01/2016 đến 12/2019. Các mục tiêu chính bao gồm đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố liên quan, cùng với nhận xét về tác dụng không mong muốn của phác đồ TCX.

Kết quả cho thấy các triệu chứng cơ năng như đau thượng vị, đầy bụng, chán ăn, sụt cân đều được cải thiện đáng kể sau điều trị (p < 0,05). Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ với điều trị đạt 53,5%, trong đó 2,8% đáp ứng hoàn toàn và 50,7% đáp ứng một phần. Các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị tích cực bao gồm không có di căn phúc mạc, số lượng di căn hạch (N) thấp và độ ác tính mô bệnh học thấp.

Thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) trung vị ước tính là 6,6 tháng, và thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung vị là 17,9 tháng. Các yếu tố như giới nữ, không di căn phúc mạc và có đáp ứng điều trị liên quan đến PFS kéo dài. Đối với OS, thể trạng tốt, không di căn phúc mạc, độ ác tính thấp và có đáp ứng điều trị là các yếu tố tiên lượng tốt.

Về tác dụng không mong muốn, phác đồ TCX cho thấy tính an toàn tốt. Các tác dụng phụ trên lâm sàng thường gặp là nôn (74,6%, 4,2% độ 3-4), tiêu chảy (19,7%, 1,4% độ 3-4), hội chứng bàn tay chân (33,8%, 5,6% độ 3-4) và thần kinh ngoại vi (47,9%, 7,0% độ 3-4). Trên hệ tạo huyết, giảm huyết sắc tố (80,2%) và giảm bạch cầu hạt (50,7%) là phổ biến nhưng chủ yếu ở mức độ nhẹ. Các độc tính trên gan (tăng men gan SGOT 47,9%, SGPT 33,8%) và thận (16,9%) đều ở mức độ thấp, không ghi nhận trường hợp độ 3-4 nặng trên thận.

Từ những kết quả trên, luận án kết luận rằng phác đồ TCX có hiệu quả và tính an toàn cao trong điều trị UTDD giai đoạn muộn, tái phát hoặc di căn, và có thể được xem xét áp dụng tại các cơ sở y tế chuyên khoa ung bướu. Luận án cũng đề xuất cần có thêm nghiên cứu về việc kết hợp các biện pháp hỗ trợ để giảm thiểu tối đa tác dụng không mong muốn của phác đồ.

Tài liệu liên quan