NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ TẮC RUỘT DO UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRÁI BẰNG PHẪU THUẬT MỞ, MỘT THÌ CÓ RỬA ĐẠI TRÀNG TRONG MỖ
Ngoại Tiêu hóa (Mã số: 62.72.01.25)
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái bằng phẫu thuật mở, một thì có rửa đại tràng trong mổ" của Lê Văn Nghĩa, chuyên ngành Ngoại Tiêu hóa, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, năm 2022, tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết trong điều trị ung thư đại tràng (UTĐT) trái có biến chứng tắc ruột. UTĐT là một trong những bệnh ung thư phổ biến với tỉ lệ mắc và tử vong cao, đặc biệt biến chứng tắc ruột ở đại tràng trái thường đòi hỏi phẫu thuật nhiều thì, gây nhiều bất tiện, tăng nguy cơ biến chứng, thời gian nằm viện dài và chi phí điều trị cao cho bệnh nhân.
Nghiên cứu tiến cứu này được thực hiện trên 72 trường hợp tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2021, với hai mục tiêu chính: xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương và xử trí phẫu thuật trên bệnh nhân UTĐT trái có biến chứng tắc ruột; và đánh giá kết quả rửa đại tràng trong mổ, kết quả sớm điều trị bằng phẫu thuật mở, một thì, có rửa đại tràng trong mổ cùng các yếu tố liên quan.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tắc ruột do UTĐT trái thường là người lớn tuổi, kèm theo nhiều bệnh lý kết hợp như tăng huyết áp, tiểu đường, thiếu máu và dinh dưỡng kém. Bệnh diễn tiến chậm, với rối loạn đại tiện trước đó, chủ yếu là táo bón. Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào chụp CLVT, do phim XQBKCB thường không điển hình (44,6%). UTĐT có biến chứng tắc ruột thường ở giai đoạn tiến triển, với mức độ xâm lấn T4 chiếm 94,4%, trong đó T4b là 30,6%, và tỉ lệ di căn hạch là 48,6%. Tắc ruột kiểu quai kín chiếm 23,6%, là yếu tố nguy cơ gây tổn thương thành đại tràng trên chỗ tắc. Vị trí khối u thường gặp nhất ở đại tràng chậu hông, phần lớn có dạng dòng nhẫn.
Về xử trí phẫu thuật, cắt đoạn đại tràng khi UTĐT có biến chứng tắc ruột đảm bảo nguyên tắc phẫu thuật ung thư về nạo hạch (tỉ lệ ≥ 12 hạch đạt 87,5%), diện cắt an toàn và cắt tạng bị xâm lấn thành một khối. Rửa đại tràng trong mổ được chứng minh là phương pháp dễ thực hiện, nhanh chóng (trung bình 15 phút), làm sạch phân hoàn toàn (100%), không gây tai biến nghiêm trọng hay rối loạn điện giải đáng kể. Phương pháp phẫu thuật cắt đoạn đại tràng, rửa đại tràng trong mổ, khâu nối một thì được đánh giá là khả thi và an toàn, với tỉ lệ thành công 95,8%. Tỉ lệ biến chứng chung là 23,6% (phần lớn là biến chứng nhẹ, không có bục xì miệng nối), và tỉ lệ tử vong là 4,2%. Các yếu tố tuổi, bệnh tiểu đường và bệnh kết hợp có liên quan đến tỉ lệ biến chứng chung, nhiễm khuẩn vết mổ và viêm phổi sau mổ, trong đó tuổi và tiểu đường là các yếu tố độc lập. Thời gian nằm viện trung bình là 11 ngày. Luận án kiến nghị cần chỉ định chụp CLVT cho tất cả các trường hợp nghi ngờ tắc ruột do UTĐT trên lâm sàng, ngay cả khi XQBKCB không điển hình.