KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN: TRÁCH NHIỆM KIỂM TOÁN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Kinh tế
Luận án này tập trung nghiên cứu "Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (AEG): trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam". Đề tài xuất phát từ nhận định AEG tồn tại và có tác động bất lợi đến uy tín, danh tiếng của nghề kiểm toán. Mục tiêu chính là khám phá các trách nhiệm kiểm toán (TNKT) cấu thành nên AEG, xác định và đo lường các thành phần của AEG, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa yếu tố nghề nghiệp và từng thành phần AEG ở Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp định tính (phân tích nội dung văn bản để xác định TNKT hiện hành) và định lượng (khảo sát 454 phiếu phản hồi từ bốn nhóm đối tượng: Kiểm toán viên (KTV), Kiểm toán nội bộ - Kế toán trưởng (KHKT), nhóm có lợi ích trực tiếp và gián tiếp). Các lý thuyết nền như lý thuyết vai trò, ủy nhiệm, hồi ứng người đọc và niềm tin tín thác được áp dụng để giải thích sự tồn tại và cấu trúc của AEG.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng AEG đáng kể tồn tại ở Việt Nam, phù hợp với định nghĩa của Porter (1993). AEG được cấu thành từ ba thành phần chính: khoảng cách hợp lý (31%), khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực (49%) và khoảng cách tăng cường kết quả (20%). Luận án không tìm thấy khoảng cách dịch vụ theo định nghĩa của Turner & cộng sự (2010). Nghiên cứu cũng xác định 13/42 TNKT cấu thành khoảng cách hợp lý, 13/42 TNKT cấu thành khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực, và 8/42 TNKT cấu thành khoảng cách tăng cường kết quả kiểm toán.
Quan trọng hơn, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy nghề nghiệp có ảnh hưởng đến các TNKT cấu thành từng thành phần của AEG. AEG luôn tồn tại do những khác biệt về vị trí nghề nghiệp, vai trò, lợi ích, bất cân xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích giữa các bên. Mức độ ảnh hưởng này cho thấy khoảng cách không thể thu hẹp hoàn toàn. Các nguyên nhân cụ thể bao gồm sự khác biệt về lợi ích ảnh hưởng đến kỳ vọng, mức độ hiểu biết thấp dẫn đến kỳ vọng cao, và kỳ vọng bất hợp lý của công chúng về kết quả kiểm toán và chuẩn mực. Luận án cũng khẳng định AEG ở Việt Nam không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, tương đồng với nhiều nghiên cứu trước. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thu hẹp AEG, bao gồm tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng kiểm soát, bổ sung TNKT và thay đổi hình thức báo cáo tài chính.