info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính lọc máu chu kì.

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM QUANH RĂNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN TÍNH LỌC MÁU CHU KÌ

Ngành:

Răng hàm mặt

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính lọc máu chu kì" của Trần Thu Giang tập trung vào một vấn đề y tế quan trọng: tình trạng viêm quanh răng (VQR) ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối đang điều trị lọc máu chu kỳ. Tình trạng VQR nặng đã được ghi nhận ở nhóm bệnh nhân này, với các yếu tố như giảm tiết nước bọt, suy giảm miễn dịch, phá hủy xương ổ răng và suy dinh dưỡng làm trầm trọng thêm bệnh lý nha chu.

Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của VQR và đánh giá kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân này, đồng thời phân tích mối liên quan của VQR với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Nghiên cứu được thực hiện trên 104 bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 1/2019 đến 11/2021.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ VQR ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính lọc máu chu kỳ là 56,7%. Nhóm bệnh nhân VQR có các chỉ số cặn, cao răng và vệ sinh răng miệng kém hơn đáng kể so với nhóm không VQR (p<0,001). Giá trị trung bình của chỉ số quanh răng cơ bản là 3,42; chỉ số lợi là 1,25; độ sâu túi lợi là 5,86 mm và độ lung lay răng là 1,74. Về cận lâm sàng, bệnh nhân VQR có giá trị trung bình và tỷ lệ tăng bạch cầu, Neutrophil và CRP cao hơn nhóm không VQR (p<0,001). 100% bệnh nhân VQR có vi khuẩn mọc khi nuôi cấy, với Pavimonas micra là vi khuẩn kỵ khí chiếm tỷ lệ cao nhất (32,2%). Tất cả các bệnh nhân VQR đều có tiêu xương ổ răng trên phim X-quang, trong đó 40,7% có kết hợp tiêu ngang và tiêu chéo.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng VQR có liên quan đến tuổi tác (tăng theo tuổi, p<0,005), hút thuốc lá, thời gian lọc máu kéo dài, chỉ số BMI thấp (<18,5), và nhiễm virus viêm gan (p<0,001). Tuổi cao, hút thuốc và tăng nồng độ CRP máu là những yếu tố độc lập liên quan đến tình trạng VQR (p<0,005).

Về kết quả điều trị, phương pháp điều trị không phẫu thuật VQR đã mang lại hiệu quả tích cực, giảm đáng kể các triệu chứng lâm sàng như hôi miệng, chảy máu chân răng, đau nhức và cải thiện các chỉ số quanh răng, vệ sinh răng miệng (p<0,001). Các chỉ số viêm toàn thân (BC, N, CRP) cũng giảm có ý nghĩa (p<0,001). Tỷ lệ mọc lại vi khuẩn túi lợi sau 1 tuần điều trị thấp (10,2%).

Các kiến nghị từ luận án bao gồm việc cần thực hiện nuôi cấy và làm kháng sinh đồ cho bệnh nhân VQR lọc máu chu kỳ do bản đồ vi khuẩn đặc biệt, đánh giá chỉ số vệ sinh răng miệng và chụp X-quang răng khi chỉ số > 3,0, và áp dụng điều trị không phẫu thuật cho bệnh nhân có độ sâu túi lợi < 6,75 mm và HST > 80 g/l.

Mục lục chi tiết:

  • Chương 1: Tổng quan tài liệu: 36 trang
  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 22 trang
  • Chương 3: Kết quả: 24 trang
  • Chương 4: Kết luận: 28 trang

Tài liệu liên quan