Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA THIẾT KẾ IMPLANT - TRỤ PHỤC HÌNH LÊN SỰ THAY ĐỔI SINH HỌC MÔ QUANH IMPLANT
Răng Hàm Mặt
Luận án "Đánh giá ảnh hưởng của thiết kế implant - trụ phục hình lên sự thay đổi sinh học mô quanh implant" của Lê Trung Chánh, thuộc ngành Răng Hàm Mặt (mã số: 62720601), được thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, tập trung vào một vấn đề còn gây tranh cãi trong cấy ghép nha khoa. Nghiên cứu này đặt ra mục tiêu đánh giá các chỉ số nha chu (PI, GI, PD, BOP), tình trạng mô mềm, sự tiêu mào xương quanh implant, và tần suất, số lượng các loại vi khuẩn cụ thể (A.actinomycetemcomitans, T.denticola, F.nucleatum, T.forsythia, P.gingivalis, S.salivarius, S. moorei) giữa hai nhóm implant chuyển tiếp phẳng (CTP) và chuyển tiếp chuyển bệ (CTCB) ở bệnh nhân mất răng cối hàm dưới tại các thời điểm 3, 6, 12 tháng sau gắn phục hình. Nghiên cứu cũng khảo sát các yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt là chiều cao niêm mạc sừng hóa và độ dày mô mềm theo chiều dọc, cùng yếu tố vi sinh ở người Việt, một lĩnh vực còn hạn chế nghiên cứu tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số PI, BOP và tình trạng mô mềm quanh implant không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm và qua các thời điểm. Chỉ số GI và PD của nhóm CTP cao hơn nhóm CTCB tại một số thời điểm nhất định (T3, T12 cho GI; T3, T6 cho PD). Mặc dù có sự tiêu mào xương có ý nghĩa thống kê theo thời gian ở cả hai nhóm so với T0, nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về mức độ tiêu mào xương giữa hai nhóm CTP và CTCB tại bất kỳ thời điểm nào, cho thấy thiết kế CTCB không bảo tồn xương tốt hơn CTP.
Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ ra rằng độ dày mô mềm theo chiều dọc và chiều cao niêm mạc sừng hóa có mối liên hệ với sự thay đổi mào xương. Cụ thể, tại T12, nhóm mô mềm mỏng (≤2 mm) và nhóm có chiều cao niêm mạc sừng hóa 2 mm) và chiều cao niêm mạc sừng hóa ≥2 mm, bất kể loại implant. Về vi khuẩn, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về số lượng và tần suất xuất hiện của các loại vi khuẩn được khảo sát giữa hai nhóm, với F.nucleatum xuất hiện nhiều nhất và A.actinomycetemcomitans ít nhất.
Từ những kết quả này, luận án kiến nghị rằng trong trường hợp độ dày mô mềm theo chiều dọc ≥ 2,3 mm và chiều cao niêm mạc sừng hóa ≥ 2,7 mm, cả implant CTP và CTCB đều mang lại kết quả bảo tồn mào xương tương tự. Ngược lại, nếu các chỉ số này thấp hơn, cần thực hiện xử lý mô mềm để hạn chế tiêu mào xương. Nghiên cứu cũng đề xuất các nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của mô mềm bằng phương pháp mô học và hệ vi khuẩn đa dạng hơn.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên