NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KẾT HỢP DẪN LƯU ĐỊNH VỊ VÀ BƠM ALTEPLASE TRONG ĐIỀU TRỊ CHẢY MÁU NÃO TỰ PHÁT TRÊN LỀU
Ngoại
Luận án này tập trung nghiên cứu hiệu quả của việc kết hợp dẫn lưu định vị và bơm Alteplase trong điều trị chảy máu não tự phát (CMNTP) trên lều. Chảy máu não tự phát được xác định là sự thoát mạch cấp tính của máu vào nhu mô não mà không do chấn thương, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp chảy máu não và có cơ chế bệnh sinh liên quan đến tổn thương các mạch máu nhỏ mạn tính.
Nghiên cứu được thực hiện trên 80 người bệnh CMNTP trên lều, những người đã trải qua phẫu thuật dẫn lưu dưới hướng dẫn định vị và được bơm Alteplase. Tiêu chí lựa chọn bao gồm chảy máu não thất kèm theo điểm Graeb dưới 9 và thời gian phẫu thuật diễn ra sau 12 giờ kể từ khi khởi phát bệnh.
Các kết quả ban đầu mô tả đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu về giới tính (80% nam, 20% nữ), độ tuổi phổ biến (40-69 tuổi), các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng tri giác lúc nhập viện. Về mặt hình ảnh học, đa số các trường hợp chảy máu xảy ra ở vùng hạch nền - đồi thị và có máu vào não thất. Thể tích khối máu tụ (KMT) trung bình trước phẫu thuật là 71.9 ml, kèm theo đè đẩy đường giữa trung bình 10.6 mm.
Trong quá trình điều trị, thể tích KMT đã giảm đáng kể sau phẫu thuật. Vị trí dẫn lưu chủ yếu nằm giữa KMT. Sau khi bơm Alteplase (trung bình 2.9 lần, bắt đầu sau 18.3 giờ từ phẫu thuật), thể tích KMT trung bình giảm xuống còn 23.9 ml, và điểm Graeb trung bình là 1.9. Tỷ lệ biến chứng như tràn khí não, chảy máu quanh dẫn lưu hoặc tăng KMT/não thất là thấp.
Kết quả ra viện cho thấy thời gian nằm viện trung bình là 14.8 ngày và điểm GCS trung bình 10.9. Tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày là 20%, chủ yếu do biến chứng thần kinh. Phân tích hồi quy đa biến xác định các yếu tố tiên lượng tử vong 30 ngày bao gồm mức Glucose > 11.1 mmol/l, thể tích KMT trước phẫu thuật, điểm Graeb ra viện và chảy máu tái phát. Đối với phục hồi chức năng kém sau 12 tháng, các yếu tố liên quan được ghi nhận là tuổi ≥ 65 tuổi, GCS trước phẫu thuật ≤ 9 điểm, đè đẩy đường giữa trước phẫu thuật > 10 mm và thể tích KMT còn lại ≥ 20 ml.