NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ TRIỆT ĐỐT NGOẠI TÂM THU THẤT PHẢI BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO DỰA TRÊN KỸ THUẬT LẬP BẢN ĐỒ NỘI MẠC CƠ TIM BA CHIỀU
Nội khoa/Nội tim mạch
Ngoại tâm thu thất (NTTT) là một rối loạn nhịp tim phổ biến, có thể gây ra nhiều triệu chứng lâm sàng và nguy hiểm đến tính mạng. Các phương pháp điều trị bao gồm không dùng thuốc, điều trị nội khoa, và triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số Radio (RF). Triệt đốt RF được đánh giá là biện pháp có tỷ lệ thành công cao và triệt để nhất. Phương pháp lập bản đồ nội mạc cơ tim ba chiều (3D) mang lại nhiều ưu điểm so với lập bản đồ hai chiều (2D), như giảm thiểu hoặc không cần chiếu tia X, khả năng dựng hình ảnh giải phẫu buồng tim 3 chiều, định vị và đánh dấu vị trí đích chính xác, từ đó tăng hiệu quả triệt đốt, đặc biệt ở các vị trí giải phẫu khó. Mặc dù vậy, số lượng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật lập bản đồ 3D trong triệt đốt NTTT khởi phát từ thất phải tại Việt Nam còn hạn chế.
Luận án này được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1) Khảo sát đặc điểm điện tim và điện sinh lý tim của bệnh nhân ngoại tâm thu thất phải, và 2) Đánh giá kết quả của phương pháp triệt đốt ngoại tâm thu thất phải bằng năng lượng sóng có tần số radio dựa trên kỹ thuật lập bản đồ nội mạc cơ tim ba chiều. Nghiên cứu đã tiến hành trên 152 bệnh nhân NTTT khởi phát từ thất phải được triệt đốt RF tại Bệnh viện tim Hà Nội trong giai đoạn từ 01/2019 đến 06/2023.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp lập bản đồ 3D giảm đáng kể thời gian chiếu tia X (trung bình 4,2 ± 3,7 giây) so với phương pháp 2D (trung bình 11,0 ± 8,4 giây), mặc dù thời gian thủ thuật và chuẩn bị ở nhóm 3D có thể dài hơn. Về hiệu quả, tỷ lệ thành công sớm của triệt đốt NTTT khởi phát từ đường ra thất phải (ĐRTP) bằng phương pháp 2D là 95,3% và 3D là 93,3%. Tỷ lệ thành công muộn tương ứng là 88,2% và 91,7%. Đối với NTTT ngoài ĐRTP, tỷ lệ thành công sớm là 85,7% và muộn là 71,4%. Tỷ lệ tái phát chung của nhóm ĐRTP là 4,8%. Các đặc điểm điện tim cho thấy NTTT có QRS dạng blốc nhánh trái, phức bộ QRS rộng hơn ở nhóm ĐRTP. Vị trí khởi phát NTTT thường gặp nhất ở thành vách (72,4%) và thành trước (64,8%) trong ĐRTP. Các triệu chứng lâm sàng như hồi hộp, đau ngực, mệt mỏi đều giảm đáng kể sau triệt đốt. Tỷ lệ biến chứng thấp (2,7%), chủ yếu liên quan đến chọc mạch. Luận án khẳng định tính an toàn và hiệu quả của phương pháp triệt đốt NTTT thất phải bằng năng lượng sóng có tần số radio dựa trên kỹ thuật lập bản đồ nội mạc ba chiều, đặc biệt trong việc giảm phơi nhiễm tia X, và là lựa chọn tốt cho các trường hợp triệt đốt NTTT thất phải, bao gồm cả bệnh nhân mang thai và các trường hợp tái phát sau triệt đốt 2D.