BIỂU HIỆN PD-L1, ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH TRONG ĐÁP ỨNG XẠ TRỊ VÀ TIÊN LƯỢNG UNG THƯ HỐC MIỆNG
RĂNG - HÀM - MẶT
Luận án tiến sĩ y học này tập trung nghiên cứu về biểu hiện PD-L1, đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh trong đáp ứng xạ trị và tiên lượng ung thư hốc miệng (UTHM). Ung thư hốc miệng là bệnh lý phổ biến tại Việt Nam, với tỷ lệ tử vong cao do phát hiện muộn và đáp ứng điều trị chưa đạt yêu cầu. Hơn 90% UTHM là carcinôm tế bào gai, với các yếu tố nguy cơ chính bao gồm sử dụng thuốc lá, rượu, cau và biến đổi gen. Di căn hạch cổ là một yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng. PD-L1 đóng vai trò then chốt trong điều hòa phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và liên quan đến kháng xạ của tế bào ung thư. Khảo sát PD-L1 được xem là điều kiện hướng dẫn trước các điều trị miễn dịch.
Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của UTHM; xác định tỉ lệ biểu hiện PD-L1 và mối liên quan của nó với các đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh; đồng thời phân tích mối liên quan giữa các yếu tố này với đáp ứng xạ trị và tỉ lệ sống còn 5 năm của bệnh nhân UTHM.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp đoàn hệ hồi cứu và tiến cứu trên 157 bệnh nhân UTHM được chẩn đoán và điều trị tại Khoa Xạ đầu cổ, Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2016 đến 31/12/2017, với thời gian theo dõi 5 năm. Dữ liệu lâm sàng, giải phẫu bệnh được thu thập, và biểu hiện PD-L1 được xác định bằng hóa mô miễn dịch trên mẫu mô sinh thiết.
Kết quả cho thấy UTHM thường gặp ở nam giới (78%), trên 40 tuổi (86,6%), liên quan chặt chẽ với thói quen hút thuốc (46,5%) và uống rượu (33,8%) ở nam giới (p < 0,001). Vị trí thường gặp nhất là lưỡi (57,3%). Tỉ lệ di căn hạch cổ lâm sàng là 38,9% và di căn hạch giải phẫu bệnh là 56,3%, trong đó di căn âm thầm chiếm 38,4%. Đa số ung thư là carcinôm tế bào gai biệt hóa tốt hoặc vừa (grad 1 và 2). Tỉ lệ biểu hiện PD-L1 dương tính trong UTHM là 60,5%, có liên quan với thói quen uống rượu và mức độ xâm nhập limphô bào.
Tỉ lệ kháng xạ trong nhóm nghiên cứu là 77,2%. Các yếu tố dự đoán khả năng kháng xạ bao gồm giới tính nam, giai đoạn lâm sàng trễ và biểu hiện PD-L1 dương tính. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 5 năm là 40%, với trung vị thời gian sống còn là 27,1 tháng. Các yếu tố dự đoán tiên lượng sống còn thấp là thói quen hút thuốc, giai đoạn ung thư trễ và sự kháng xạ. Biểu hiện PD-L1 dương tính trên tế bào ung thư nguyên phát không có ý nghĩa thống kê trong tiên lượng sống còn toàn bộ UTHM (p = 0,552).
Nghiên cứu kiến nghị tiếp tục nghiên cứu, tăng cường chẩn đoán sớm và dự phòng yếu tố nguy cơ. Cần cân nhắc các yếu tố lâm sàng (giới tính nam, thói quen hút thuốc, giai đoạn ung thư trễ) và biểu hiện PD-L1 dương tính khi quyết định phác đồ xạ trị. Đồng thời, cần nghiên cứu thêm về vai trò của PD-L1 trong tiên lượng và điều trị miễn dịch UTHM.