info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Đánh giá kết quả điều trị miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng bằng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi

Năm2024
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MIỆNG NIỆU ĐẠO ĐÓNG THẤP THỂ NẶNG BẰNG KỸ THUẬT KOYANAGI CẢI TIẾN THEO HAYASHI

Ngành:

Ngoại Thận – Tiết niệu

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án “Đánh giá kết quả điều trị miệng niệu đạo đóng thấp thể nặng bằng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi” của Lê Nguyễn Yên, Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Y học năm 2024, được thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này tập trung vào miệng niệu đạo đóng thấp (MNĐĐT) thể nặng, một dị tật bẩm sinh phổ biến, nơi việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật hiệu quả, an toàn và giảm số lần can thiệp vẫn là thách thức lớn. Các kỹ thuật phổ biến như Bracka (hai thì) và Duckett (một thì) còn tồn tại hạn chế về số thì phẫu thuật và nguy cơ hẹp niệu đạo.

Kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi được đề xuất như một lựa chọn thay thế trong bối cảnh các khuyến cáo của Hiệp hội Tiết niệu Châu Âu (EAU 2023). Nghiên cứu này là công trình đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi trong phẫu thuật tạo hình niệu đạo một thì cho MNĐĐT thể nặng. Mục tiêu của luận án là mô tả đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu dựa trên thang điểm GMS (Merriman), xác định tỷ lệ thành công và phân tích các trường hợp thất bại (biến chứng) sau phẫu thuật.

Nghiên cứu được triển khai áp dụng trên 80 bệnh nhi MNĐĐT thể nặng (tổng điểm GMS từ 10-12) được điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 05/2017 đến 12/2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung vị phẫu thuật là 26 tháng, kích thước quy đầu trung vị 13 mm, với độ cong dương vật trên 80° chiếm ưu thế (73,8%). Tỷ lệ thành công chung sau phẫu thuật lần đầu là 65% (52,5% tốt, 12,5% trung bình). Các biến chứng sớm bao gồm chảy máu (8,8%), nhiễm trùng vết mổ (6,3%) và tắc ống thông niệu đạo (15%). Biến chứng muộn đáng kể là tụt miệng niệu đạo (33,8%), rò niệu đạo (18,8%), hẹp miệng niệu đạo (3,8%), túi thừa niệu đạo (3,8%) và cong dương vật tái phát (3,8%). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tắc ống thông niệu đạo có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với biến chứng muộn (p < 0,05), và điểm GMS càng cao thì tỷ lệ biến chứng càng tăng.

Luận án kết luận rằng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi là một phương pháp khả thi trong điều trị MNĐĐT thể nặng, đạt tỷ lệ thành công 65% và không ghi nhận hẹp niệu đạo nghiêm trọng hay cong dương vật tái phát đơn thuần. Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng muộn vẫn còn cao. Từ thực tiễn nghiên cứu, luận án kiến nghị cân nhắc thay đổi loại ống thông niệu đạo, tiếp tục theo dõi dài hạn đến tuổi dậy thì, và nghiên cứu kết hợp vật liệu che phủ niệu đạo để giảm thiểu biến chứng.

Tài liệu liên quan