info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Quá trình thành tạo quặng nickel biểu sinh tại một số khối siêu mafic miền Bắc Việt Nam

Năm2021
Lĩnh vựcCông nghệ kỹ thuật
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

QUÁ TRÌNH THÀNH TẠO QUẶNG NICKEL BIỂU SINH TẠI MỘT SỐ KHỐI SIÊU MAFIC MIỀN BẮC VIỆT NAM

Ngành:

Khoáng vật học và Địa hóa học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án nghiên cứu quá trình thành tạo quặng nickel biểu sinh tại các khối siêu mafic ở miền Bắc Việt Nam, tập trung vào Hà Trì (Cao Bằng) và Núi Nưa (Thanh Hóa). Quặng nickel biểu sinh (laterit) là nguồn cung cấp nickel chủ yếu toàn cầu, hình thành từ phong hóa mạnh mẽ đá siêu mafic giàu olivin trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, dẫn đến sự tích tụ và làm giàu Ni, Fe, Co, Mn. Việt Nam, với khí hậu và sự phân bố các khối siêu mafic, có tiềm năng cao cho loại hình khoáng sản này.

Nghiên cứu chỉ ra rằng quá trình phong hóa ở cả Hà Trì và Núi Nưa đều thuộc kiểu laterit hóa ở mức độ yếu đến trung bình, nhưng có sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm phong hóa và khoáng hóa. Tại Hà Trì (đá gốc lherzolit serpentin hóa vừa phải), đới saprolit dày chứa nhiều khoáng vật garnierit (silicat Ni-Mg ngậm nước) với hàm lượng Ni trung bình 1,7%, trong khi đới limonit có Ni trung bình 0,6%. Cả ba kiểu khoáng hóa Ni biểu sinh (kiểu A - silicat Ni-Mg ngậm nước, kiểu B - silicat sét, kiểu C - oxit) đều có mặt ở Hà Trì, với kiểu A chiếm ưu thế.

Ngược lại, tại Núi Nưa (đá gốc apohazbugit và apodunit serpentin hóa rất mạnh), đới saprolit thường nghèo Ni (0,5% Ni), Ni được làm giàu chủ yếu từ ranh giới đới limonit và saprolit lên toàn bộ đới limonit (0,7% Ni) với khoáng vật smectit và goethit. Khoáng hóa ở Núi Nưa đa dạng tùy thuộc vào đá gốc; trên apodunit chủ yếu phát triển kiểu C và một phần kiểu B, còn trên apohazbugit có cả ba kiểu nhưng kiểu A không đáng kể. Sự khác biệt này được lý giải bởi thành phần đá gốc, đặc điểm địa hình và điều kiện kiến tạo.

Luận án kết luận rằng quặng hóa Ni biểu sinh chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố. Các khối siêu mafic thuộc phức hệ Cao Bằng (Hà Trì, Suối Củn, Phan Thanh) và Bản Xang (Bản Phúc, Bản Khoa) được đánh giá có triển vọng cao nhất, đặc biệt đối với quặng hóa kiểu A. Khối Núi Nưa, dù kém thuận lợi hơn cho kiểu A, nhưng với diện tích lớn và sự hiện diện của các kiểu B và C đáng kể, vẫn là đối tượng cần quan tâm nghiên cứu chi tiết hơn.

Tài liệu liên quan