info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu thành phần loài họ tò vò Sphecidae (Hymenoptera: Apoidea) ở một số tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam, đặc điểm sinh học, sinh thái học và tập tính của loài Sceliphron madraspatanum (Fabricius, 1781).

Năm2020
Lĩnh vựcKhoa học tự nhiên
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ TÒ VÒ SPHECIDAE (HYMENOPTERA: APOIDEA) Ở MỘT SỐ TỈNH VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ TẬP TÍNH CỦA LOÀI Sceliphron madraspatanum (FABRICIUS, 1781)

Ngành:

Côn trùng học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu thành phần loài họ tò vò Sphecidae (Hymenoptera: Apoidea) ở một số tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam, đặc điểm sinh học, sinh thái học và tập tính của loài Sceliphron madraspatanum (Fabricius, 1781)" được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu khoa học về khu hệ tò vò tại vùng Tây Bắc Việt Nam và bổ sung thông tin chi tiết về loài S. madraspatanum. Họ tò vò Sphecidae là nhóm côn trùng có ích, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nhưng còn ít được nghiên cứu tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 31 loài và phân loài (25 loài, 6 phân loài) thuộc 7 giống trong 4 phân họ của họ tò vò Sphecidae tại các tỉnh vùng Tây Bắc. Đề tài đã phát hiện và mô tả 1 loài mới cho khoa học (Chalybion tanvinhensis Pham và Ohl, 2019), ghi nhận mới 4 loài và 3 phân loài cho khu hệ tò vò của Việt Nam, cùng 9 loài và 6 phân loài mới cho vùng Tây Bắc. Luận án cũng ghi nhận mới 01 giống ong kí sinh Melittobia cho khu hệ côn trùng kí sinh của Việt Nam.

Về đặc điểm sinh học, sinh thái học và tập tính của loài S. madraspatanum, luận án đã xác định vòng đời trung bình là 35,51 ± 4,27 ngày (31-41 ngày) với 4 pha phát triển: trứng (2,23 ngày), ấu trùng (7,35 ngày, 3 tuổi), nhộng (20,06 ngày) và giai đoạn tiền đẻ trứng (5,87 ngày). Tỉ lệ nở của trứng đạt 95,2%, tỉ lệ sống của ấu trùng là 82,8% và nhộng là 84,8%. Trưởng thành có thời gian sống trung bình 18,5 ngày (đực) và 51,2 ngày (cái) khi được nuôi bằng mật ong pha loãng 50%.

Loài này làm tổ bằng bùn hoặc than, có cấu trúc từ 1-17 khoang, thường ở trên tường nhà và các công trình xây dựng. Thời gian ngủ đông ở pha tiền nhộng kéo dài trung bình 172,8 ngày, và trưởng thành xuất hiện trong năm khoảng 194 ngày (từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 11). Vật mồi chủ yếu là nhện (8 giống thuộc 4 họ), trong đó Araneus và Zygeilla phổ biến nhất. Luận án cũng ghi nhận 13 loài kẻ thù tự nhiên thuộc 12 giống trong 9 họ. Về tập tính, con cái xây tổ ở độ cao 1-4 mét, sử dụng miệng và chân trước để nặn và mang bùn. Việc hoàn thành một khoang tổ mất khoảng 7 giờ 32 phút. Trứng được đẻ đơn lẻ trên con mồi nhện. Ấu trùng tuổi 1 hút dịch, tuổi 2-3 ăn con mồi. Trưởng thành vũ hóa bằng cách phá kén và đục lỗ trên tổ bùn, sau đó thăm dò môi trường bằng râu trước khi bay đi. Tập tính giao phối diễn ra khi con đực ôm con cái từ mặt lưng, kéo dài 20 giây đến 8 phút.

Tài liệu liên quan